- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đào Thị H ly hôn với anh Trương Hoàng G do mâu thuẩn gia đình."
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 31/2020/HNGĐ-ST Ngày 10/7/2020 “Về việc ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Minh Tùng
2. Bà Ngô Thị Phương Trang
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Khổng Phúc Vĩnh Nhật - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 251/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2020/QĐXX-ST ngày 28 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đào Thị H, sinh năm 1989
Nơi cư trú: ấp M, xã P, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: Anh Trƣơng Hoàng G, sinh năm 1989
Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện VT, thành phố Cần Thơ.
(Chị H có mặt, anh G vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện ngày 25 tháng 7 năm 2019, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Đào Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trương Hoàng G tự quen biết, tìm hiểu được khoảng 06 đến 07 tháng thì hai người tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới vào năm 2012, không nhớ ngày, tháng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14 tháng 4 năm 2015.
Sau khi cưới vợ chồng sống chung bên gia đình của chị, vợ chồng chị đi làm chung công ty, anh G ghen tuông vô cớ, dẫn đến vợ chồng cự cải thường xuyên, có lần anh G tự hành hạ thân xác mình như lấy ly đập vào đầu, lấy lưỡi lam cắt vào cơ thể, gây cho chị lo sợ, bất an, sau đó anh G đã bỏ nhà đi cho đến nay. Chị và anh G đã ly thân từ tháng 6/2015(dl) cho đến nay, trong thời gian ly thân chị có liên lạc với anh G nhưng không được, anh G cũng không có liên lạc với chị và cũng không quay về gia đình chị nữa. Nay xét thấy tình cảm không còn xin được ly hôn với anh G.
Về con: Chị và anh G chưa có con chung nên không đặt vấn đề để Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung riêng và nợ: Không có, nên không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn anh Trương Hoàng G vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu được ly hôn với anh Giang.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa về việc tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đào Thị H được ly hôn với anh Trương Hoàng Giang.
Về con và tài sản: Không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đồng thời, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Thị H là xin ly hôn với anh Trương Hoàng G do mâu thuẩn gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh G cư trú tại địa bàn xã L, huyện VT, thành phố Cần Thơ nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:
Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn anh Trương Hoàng G đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án vào các ngày 27 tháng 5 năm 2020 và ngày 10/7/2020 nhưng anh G đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về nội dung giải quyết:
Chị Đào Thị H và anh Trương Hoàng G tự quen biết, tìm hiểu được khoảng 06 đến 07 tháng thì hai người tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 14 tháng 4 năm 2015 theo quy định nên hôn nhân của chị và anh Giang là hợp pháp. Chị H có đơn xin ly hôn được Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Theo lời trình bày của chị H, nguyên nhân mâu thuẩn vợ chồng là do anh G ghen tuông vô cớ, dẫn đến vợ chồng cự cải thường xuyên, có lần anh G tự hành hạ thân xác mình như: lấy ly đập vào đầu, lấy lưỡi lam cắt vào cơ thể, gây cho chị lo sợ, bất an, sau đó anh Giang đã bỏ nhà đi cho đến nay. Chị và anh G đã ly thân từ tháng 6/2015(dl) cho đến nay, trong thời gian ly thân chị có liên lạc với anh Giang nhưng không liên lạc được, anh G cũng không có liên lạc với chị và cũng không quay về gia đình chị nữa. Nay xét thấy tình cảm không còn nên chị xin được ly hôn với anh G.
Về phía anh G, khi thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập anh nhiều lần để làm việc (ghi lời khai, làm bản tự khai, tham gia hòa giải để Tòa án động viên hai bên xóa bỏ mâu thuẩn để vợ chồng đoàn tụ) nhưng anh đều vắng mặt, không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án, trình bày ý kiến của mình. Điều đó, chứng tỏ anh G cũng không còn quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng để tiếp tục chung sống với chị H. Từ khi chị Hậu và anh G sống ly thân đến nay, cuộc sống của mỗi bên tự lo liệu, không còn quan tâm giúp đở lẫn nhau. Hai bên không thể xóa bỏ mâu thuẩn để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Giữa chị H, anh G không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, mâu thuẩn giữa hai người đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị H được ly hôn với anh Giang là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con: Chị H và anh G chưa có con chung nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản và nợ: Quá trình tố tụng, các đương sự không ai yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147; khoản Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Các Điều 51, 54 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận cho chị Đào Thị H được ly hôn với anh Trương Hoàng G.
2/ Về con: Không có, nên không xem xét giải quyết
3/ Về tài sản, nợ: Không có ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Buộc chị Đào Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/008405, ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ được chuyển thành án phí (chị Hậu đã nộp đủ án phí).
5/ Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND huyện Vĩnh Thạnh; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thạnh; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHÊN TÒA Võ Bảo Anh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |