vanban.org

Bản án 31/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Hoàng Thị Quyên ly hôn anh hoàng Văn Vững"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________
Bản án số:31/2020/HNGĐ-ST
Ngày 15-7-2020
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Quang Long;

2- Ông Hoàng Văn Khiếu.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều Thư ký Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Bà Mạc Minh Song- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2020/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 5 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2020/QĐXX-ST ngày 19 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Q 29 tuổi

Địa chỉ: Thôn P- xã V- huyện L- tỉnh Y, có mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn V 27 tuổi

Địa chỉ: Thôn P- xã V- huyện L- tỉnh Y, đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 04-5-2020 và các lời khai, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Q trình bày: Chị và anh Hoàng Văn V kết hôn tháng 4 năm 2013 trên cơ sở tự nguyện; đăng ký kết hôn tại UBND xã V- huyện L- tỉnh Y. Sau khi kết hôn vợ chồng sống không hòa thuận, nguyên nhân là do anh V hay đi uống rượu say về phá đồ đạc, chửi bới thậm chí nhiều lần còn đánh chị. Gia đình đã khuyên nhủ, có lần trưởng thôn và công an viên phải đến giải quyết nhưng anh V không thay đổi. Chị đã đưa con về bên ngoại, vợ chồng sống ly thân ba năm nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị giải quyết cho ly hôn. Về con chung: Chị và anh V có một cháu là Hoàng Minh Ch sinh ngày 10-6-2015 đã đổi chữ đệm và tên thành Hoàng Như Q, cháu hiện đang ở cùng mẹ. Khi ly hôn chị sẽ nuôi cháu Q, không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung chị xác định không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y đã ra văn bản thông báo và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hoàng Văn V vẫn không có mặt nên Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa chị Hoàng Thị Q và anh Hoàng Văn V là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện L. Mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh V vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tình cảm: Chị Hoàng Thị Q và anh Hoàng Văn V kết hôn năm 2013, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Kết quả xác minh tại địa phương cơ bản phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong thời gian qua vợ chồng chị Q- anh V không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau từ đó nhiều lần xảy ra cãi vã; hai người cũng đã có thời gian dài sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Qúa trình giải quyết chị Q khẳng đình tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị giải quyết cho ly hôn. Qua đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Q- anh V đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Q có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Q và anh V có một cháu là Hoàng Như Q sinh ngày 10-6-2015, cháu hiện đang ở với mẹ. Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Q đề nghị được nuôi cháu và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con. Xét hoàn cảnh thực tế anh V đang đi làm ăn xa; cháu Q còn nhỏ lại là con gái; trong suốt thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu thường xuyên ở với mẹ. Để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, cần giao cháu cho chị Q trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Do chị Q không yêu cầu nên anh V không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Q xác định không có.

[5] Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý kiến: Qúa trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử chị Hoàng Thị Q được ly hôn với anh Hoàng Văn V; giao cháu Hoàng Như Q cho chị Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng…

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về tình cảm: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Hoàng Thị Q được ly hôn với anh Hoàng Văn V.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Hoàng Như Q sinh ngày 10-6-2015 cho chị Hoàng Thị Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Hoàng Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.

3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hoàng Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Q đã nộp đủ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số AA/2017/0004803 ngày 05-5-2020.

4- Quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Hoàng Văn V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ