vanban.org

Bản án 31/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 11/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Sơn T phạm tội “Trộm c p tài sản”.

C n c : Khoản 1 Điều 173; điểm i, s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự n m 2015 được sửa đ i, b sung n m 2017. Xử phạt bị cáo Sơn T 06(sáu) tháng tù. Th i gian phạt tù tính t ngày bị b t tạm giữ ngày 26/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Trộm cắp tài sản (Bị cáo Sơn T) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sơn T phạm tội “Trộm c p tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2019/HS-ST
Ngày: 11/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành h n

ng t

th m g m :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Triệu hánh Long

2. Ông Lâm Si Wath Tha

- Thư ký h ên tòa: Ông L m Minh Tu n, Thẩm tra viên T a án nh n d n thị

Vĩnh Ch u, t nh Sóc Tr ng

- Đạ d ện V ện K ểm Sát nhân dân thị ã Vĩnh Châu, t nh S Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đinh V n iệt, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 n m 2019, tại Trụ sở T a án nh n d n thị Vĩnh Ch u ét ử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 8 n m 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra ét ử số: 36/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 9 n m 2019 đối với bị cáo:

Sơn T; sinh n m: 1989; Nơi cư trú: hóm A, phư ng B, thị C, t nh Sóc Tr ng; nghề nghiệp: Làm công; trình độ h c v n: 9/12; Dân tộc: hmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn H (s) và bà Hu nh Thị N (s); anh chị em ruột: Có 04 ngư i; vợ: Thạch Thị P, có 02 ngư i con (lớn nh t sinh n m 2015; nhỏ nh t sinh n m 2019); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị b t tạm giam t ngày 26 tháng 6 n m 2019 đến nay (bị cáo có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Sơn T: Ông Nguy n V n B là trợ giúp viên pháp lý của Trung t m trợ giúp pháp lý Nhà nước t nh Sóc Tr ng (có mặt).

- Bị h i: im Thị Đa H; sinh ngày 23 11 1999 (có mặt).

Nơi cư trú: hóm D, phư ng E, thị C, t nh Sóc Tr ng.

- Người c quy n l i ngh a v liên quan:

- Châu N; sinh n m: 1991(v ng mặt).

Nơi cư trú: hóm , phư ng E, thị C, t nh Sóc Tr ng

- L m V n L; sinh n m: 1964 (có mặt).

Nơi cư trú: hóm G, phư ng E, thị C, t nh Sóc Tr ng

- Thạch Thị P; sinh n m: 1996 (có mặt).

Nơi cư trú: hóm H, phư ng E, thị C, t nh Sóc Tr ng

- Người phiên dịch: Ông Sơn Chốt – Nguyên Cán bộ đài truyền thanh thị

Vĩnh Ch u (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Vào khoảng 09 gi ngày 31/3/2019, Sơn T điều khiển e mô tô Exciter màu đỏ – tr ng mượn của Châu N không r biển số chạy đến khóm H, phư ng E, thị C. Khi th y nhà của chị im Thị Đa H đóng cửa không có ngư i trông coi T đ nảy sinh ý định trộm c p tài sản nên Sơn T liền đậu e ngoài lộ, đi bộ đến bên hông nhà; dùng tay kéo miếng tôn i m ng lên để chui vào trong nhà. Sau đó, giật mạnh để mở tủ kiếng tìm kiếm tài sản và phát hiện có 02 (hai) chiếc v ng vàng để trong qu n áo rớt ra ngoài nên chiếm đoạt bỏ vào trong túi qu n rồi chui ra ngoài theo lối c . Sau khi l y được tài sản T lên e chạy đến tiệm vàng Tuyết H gặp anh Lê V n L, bán hai chiếc v ng vàng được 4.853.000 đồng, thì quay về trả e cho Châu N và trả nợ cho Sơn V 3.000.000 đồng, đưa cho vợ là Thạch Thị P 1.000.000 đồng, số tiền c n lại T tiêu ài hết. Đến khoảng 11 gi ngày 31 3 2019, khi im Thị Đa H về nhà thì phát hiện số tài sản trên bị m t trộm nên đến tiệm vàng Tuyết H th m d thì được biết có ngư i thanh niên đ đến bán 02 chiếc v ng vàng nêu trên nhưng hiện nay chủ tiệm vàng đ n u thành khối nên im Thị Đa H trình báo cho cơ quan công an ử lý theo thẩm quyền.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan điều tra công an thị C tiến hành ác minh làm r và tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Sơn T.

Tại ết luận định giá tài sản số: 12 L-HĐĐGTS ngày 08 5/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nh n d n thị Vĩnh Ch u kết luận: 01 v ng đeo tay b ng vàng 17k có tr ng lượng 01 ch có giá trị c n lại là 2.690.0000 đồng; 01 v ng đeo tay b ng vàng 14k tr ng lượng 1,09 ch có giá trị c n lại là 2.289.000 đồng, t ng giá trị tài sản là 4.979.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, Sơn T đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do mình g y ra. Ngoài ra, T c n khai nhận vào ngày 30 5 2019 bị cáo cùng với Sơn Q thực hiện hành vi cướp giật tài sản của ngư i khác, hiện cơ quan điều tra đ khởi tố vụ án, khởi tố bị can để ử lý riêng.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị Vĩnh Ch u không thu giữ được vật ch ng.

Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKS-VC ngày 22 tháng 8 n m 2019 của Viện Kiểm Sát nhân dân thị Vĩnh Châu truy tố bị cáo Sơn T về tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự n m 2015 được sửa đ i, b sung n m 2017 (sau đ y g i t t là Bộ luật hình sự n m 2015).

Tại phiên t a, đại diện Viện kiểm sát nh n d n thị Vĩnh Ch u, t nh Sóc Tr ng trong ph n tranh tụng v n giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Sơn T về tội “Trộm c p tài sản” và đề nghị Hội đồng ét ử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự n m 2015, ử phạt bị cáo Sơn T t 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.

- Về trách nhiệm d n sự: Buộc bị cáo trả cho bị hại số tiền 4.979.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên t a vợ bị cáo kh c phục 500.000 đồng.

Ngư i bào chữa cho bị cáo Sơn T: thống nh t về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ như l i luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h,s,b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 nên đề nghị Hội đồng ét ử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 để Quyết định hình phạt dưới m c th p nh t của khung hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên t a, bị cáo Sơn T thống nh t với l i bào chữa của vị trợ giúp viên pháp lý, bị cáo không có tranh luận gì thêm và in được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên t a, bị hại im Thị Đa H th a nhận có m t tài sản do Sơn T trộm c p đúng như nội dung Cáo trạng truy tố và l i nhận tội của bị cáo; Về trách nhiệm d n sự, bị hại đ nhận số tiền bồi thư ng là 500.000đ nên yêu c u bị cáo Sơn T phải tiếp tục bồi thư ng số tiền c n lại là 4.479.000 đồng. Đồng th i, bị hại in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên t a, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan L m V n L trình bày: Vào ngày 31 3 2019, ông có mua hai chiếc v ng có đặc điểm giống nhau, một v ng 17k có tr ng lượng 01 ch và một v ng 14k có tr ng lượng 1,09 ch với giá 4.853.000 đồng do bị cáo T đến bán nhưng không biết đ y là tài sản do bị cáo phạm tội mà có. Sau đó, ông đem số vàng trên n u thành khối.

Tại phiên tòa, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thạch Thị P trình bày: Vào ngày 31 3 2019, chồng chị là Sơn T có đưa cho chị số tiền 1.000.000 đồng nhưng chị không biết số tiền này do Sơn T trộm c p mà có.

Tại cơ quan điều tra, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu N trình bày: Vào ngày 31 3 2019, anh có cho Sơn T mượn chiếc e E cite màu đỏ – tr ng, được khoảng 01 gi thì Sơn T đem e trả. Anh không biết Sơn T dùng xe để trộm c p tài sản nên mới cho mượn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n c vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng ét ử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nh n nh n thị Vĩnh Ch u, Điều tra viên, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, bị hại, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan u t trình ch ng c phù hợp với quy định pháp luật; bị cáo, bị hại không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại về hành vi quyết định tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên t a, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu N v ng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điềutra đ có l i khai đ y đủ, r ràng. Đồng th i, tại phiên t a vị iểm sát viên, bị cáo và bị hại đều đề nghị ét ử v ng mặt Châu N. Do đó, c n c vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự n m 2015. Hội đồng ét ử tiến hành ét ử v ng mặt Châu N theo quy định pháp luật.

L i khai nhận của bị cáo Sơn T tại phiên t a phù hợp với l i khai tại cơ quan điều tra, l i khai của bị hại, l i khai ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các ch ng khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định, bị cáo Sơn T đ lén lút l y trộm tài sản của bị hại im Thị Đa H với t ng giá trị là 4.979.000 đồng. Xét th y, hành vi của bị cáo Sơn T đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự n m 2015. Cho nên, Cáo trạng số: 28/CT-VKS - VC ngày 22 tháng 8 n m 2019 của Viện Kiểm Sát nhân dân thị Vĩnh Châu truy tố bị cáo Sơn T về tội “Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự n m 2015 là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên t a, bị cáo Sơn T th a nhận là nhận th c được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng v n cố ý thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm do hành vi mà bị cáo đ g y ra. Xét tính ch t, hành vi và hậu quả của bị cáo Sơn T gây ra là nguy hiểm cho hội. Do bản ch t tham lam nên bị cáo đ lợi dụng sự m t cảnh giác của ngư i quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm c p tài sản. Hành vi của bị cáo đ trực tiếp m phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của ngư i khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, g y ảnh hưởng u đến trật tự hội ở địa phương. Vì vậy, đối với bị cáo c n phải ử phạt nghiêm, c n cách ly bị cáo trong một th i gian hợp lý để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành ngư i công d n có ích cho hội.

Tuy nhiên, ét về nh n th n c ng c n em ét giảm nhẹ cho bị cáo như: Sau khi phạm tội bị cáo đ thành khẩn khai báo, phạm tội l n đ u và thuộc trư ng hợp ít nghiêm tr ng, tại phiên t a bị cáo đ tác động gia đình bồi thư ng cho bị hại số tiền là 500.000đ và được bị hại in giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có trình độ h c v n th p nên nhận th c pháp luật c n hạn chế. Đ y là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s,b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự n m 2015 để em ét giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm d n sự: Bị hại im Thị Đa H yêu c u bị cáo T bồi thư ng số tiền c n lại là 4.479.000 đồng và yêu c u em ét giảm nhẹ một ph n hình phạt cho bị cáo.

Đối với L m V n L mua hai chiếc v ng vàng của Sơn T không biết T trộm c p mà có nên cơ quan điều tra không truy c u trách nhiệm hình sự đối với L m V n L là đúng theo quy định pháp luật.

Đối với Ch u N, trong quá trình điều tra không ch ng minh được vai tr đồng phạm với Sơn T thực hiện việc trộm c p; đối với số tiền 3.000.000 đồng để trả nợ mà T đ thiếu V, T đưa cho Thạch Thị P số tiền 1.000.000 đồng, những ngư i này không biết là tiền T trộm c p mà có nên cơ quan điều tra không ử lý là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên t a, ét th y đề nghị của vị iểm sát viên là có cơ sở, phù hợp với tính ch t, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị hại, nên Hội đồng ét ử ch p nhận.

Tại phiên t a vị trợ giúp viên bào chữa cho bị cáo Sơn T đề nghị áp dụng Điều 54 để tuyên m c án dưới khung hình phạt là chưa nghiêm, chưa đủ tính r n đe và ph ng ng a chung cho hội, nên Hội đồng ét ử không ch p nhận. Bởi vì, hiện nay tình hình trộm c p tài sản trên địa bàn thị Vĩnh Ch u ảy ra ngày càng gia t ng và g y hoang mang lo sợ trong qu n chúng nh n d n. Cho nên, việc cách ly bị cáo T ra khỏi hội một th i gian nh t định nh m mục đích giáo dục, r n đe ý th c ch p hành pháp luật đối với bị cáo, đồng th i giáo dục, r n đe ph ng ng a chung cho toàn hội là c n thiết.

Về án phí: Bị cáo Sơn T là ngư i d n tộc khơmer sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó kh n và bị cáo có đơn in mi n án phí nên không phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Sơn T phạm tội “Trộm c p tài sản”.

C n c : Khoản 1 Điều 173; điểm i, s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự n m 2015 được sửa đ i, b sung n m 2017.

Tuyên ử:

Xử phạt bị cáo Sơn T 06(sáu) tháng tù. Th i gian phạt tù tính t ngày bị b t tạm giữ ngày 26/6/2019.

Về trách nhiệm d n sự: C n c khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự n m 2015; các Điều 584, 585, 586, 589, khoản 2 Điều 357 của Bộ luật d n sự n m 2015;

Buộc bị cáo Sơn T có nghĩa vụ bồi thư ng tiếp số tiền c n lại cho bị hại im Thị Đa H là 4.479.000 đồng.

hi bản án có hiệu lực pháp luật, kể t ngày bị hại im Thị Đa H có đơn yêu c u thi hành án thì hàng tháng bị cáo Sơn T c n phải chịu lãi theo m c l i su t chậm thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dan sự đối với số tiền chậm thi hành án.

Về án phí:

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc Hội quy định về m c thu, mi n, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án;

Mi n án phí cho bị cáo Sơn T.

Báo cho bị cáo, bị hại, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Đối với ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt được quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì ngư i được thi hành án d n sự, ngư i phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án d n sự; Th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự n m 2008 (sửa đ i, b sung n m 2014). N nhận:

Cỡ chữ