- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Đông - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Cướp tài sản”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2019/HS- ST Ngày 30 tháng 10 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG LÔ - TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Nguyễn Thị Hiền
2.Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Xuân Huy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Dương Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Phạm Văn Đ, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1967; sinh trú quán: Thôn Đoàn Kết, xã Xuân Lôi, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân Đ sinh năm1935 và bà Trần Thị N sinh năm 1935; vợ: Nguyễn Thị H sinh năm 1968 (đã ly hôn); con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1991 nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án, tại Bản án số 1334/2007/HSPT ngày 20/9/2007 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 năm tù về tội Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. Ngày 07/02/2018 chấp hành xong hình phạt tù. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2019 đến nay,(có mặt).
Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 2000; trú tại: Thôn Mục, xã Đôn Nhân, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/5/2019, Phạm Văn Đ đang ngồi chơi tại quán sửa xe của anh Đoàn Văn N ở thôn Ngọc Thạch 1, xã An Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc có chị Nguyễn Thị Q đến vá săm xe mô tô Honda Wave RSX-AT BKS: 88B1-036.40, trong khi Q ngồi chờ, Đ nói chuyện với chị Q biết chị Q đi về xã Đôn Nhân nên Đông nảy sinh ý định đi nhờ xe để chiếm đoạt chiếc xe mô tô của chị Q. Khi vá xe xong, Đ điều khiển xe mô tô của chị Q chở Q theo hướng đi xã Tử Du, Xuân Lôi, Đồng Thịnh, Đức Bác, Tứ Yên. Trong quá trình đi, Đ chủ động điều khiển xe đi chậm với vận tốc khoảng 20 km/h để chờ trời tối và đến đoạn đường vắng vẻ nhằm thực hiện hành vi chiếm đoạt xe thuận lợi. Khi đến đoạn đường đê Sông Lô thuộc thôn Yên Lương, xã Tứ Yên, huyện Sông Lô (đoạn đường vắng vẻ, không có nhà dân), lúc này khoảng gần 19 giờ cùng ngày, thấy Đ có biểu hiện bất thường nên chị Q yêu cầu Đông dừng lại để chị Q điều khiển xe. Đông dừng lại, chị Q định điều khiển xe nhưng Đ không cho, hai bên giằng co làm xe mô tô này đổ tại chỗ, chị Q dựng xe, ngồi lên nổ máy điều khiển xe thì Đ ngồi lên phía sau giằng co tay lái với chị Q làm xe đổ nghiêng và trượt trên mặt đường khoảng hơn 01 mét, chị Q dựng xe lên định điều khiển thì Đ dùng hai tay ôm từ phía sau nhấc bổng chị Q lên ném chị Q xuống sườn đê bên phải hướng xã Tứ Yên đi thị trấn Tam Sơn, sau đó Đ điều khiển xe mô tô BKS: 88B1-036.40 của chị Q bỏ chạy về nhà bà Đào Thị T ở thôn Bắc 2, xã Hoàng Đan, huyện Tam Dương. Tại đây, Đ thay quần áo và điều khiển xe vừa cướp được lẩn trốn đến ngày 05/5/2019, Đ điều khiển xe mô tô quay về nhà bà T thì bị Công an huyện Sông Lô tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, đưa Đ về Ủy ban nhân dân xã Hoàng Đan lập biên bản, thu giữ: 01 chiếc xe mô tô Honda RSX-AT BKS: 88B1-036.40. Cùng ngày, Công an huyện Sông Lô tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bà T, thu giữ 01 bộ quần áo màu xanh (áo dân quân tự vệ) Đ mặc khi phạm tội. Tiến hành khám xét nơi ở của Đ nhưng không thu giữ vật chứng gì liên quan đến vụ án.
Tại kết luận định giá tài sản số 32 ngày 16/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Sông Lô kết luận: Trị giá chiếc xe mô tô Honda Wave RSX-AT BKS: 88B1-036.40 là 6.000.000 đồng.
Ngày 20/5/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Lô trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị Q nhưng chị Q kiên quyết từ chối giám định vì thương tích nhẹ.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô Honda Wave RSX-AT BKS: 88B1-036.40 cho chị Q, chị Q không có yêu cầu đề nghị gì.
Vật chứng của vụ án: Gồm 01 bộ quần áo màu xanh và 01 đôi dép của Phạm Văn Đông; 01 chiếc mũ bảo hiểm của chị Nguyễn Thị Q.
Đối với bà Đào Thị T, không biết Đông thực hiện hành vi cướp chiếc xe mô tô trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Lô không đề cập xử lý.
Tại Cáo trạng số 34/CT – VKS ngày 24/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô đã truy tố Phạm Văn Đ về tội “ Cướp tài sản” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô luận tội đối với bị cáo Phạm Văn Đông và giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/5/2019), không áp dụng hình phạt bổ sung và đề xuất quan điểm xử lý vật chứng vụ án.
Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô truy tố và đề nghị xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Lô, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Phạm Văn Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp lời khai của bị hại Nguyễn Thị Q tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận:
Xuất phát từ mục đích tư lợi để có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 19 giờ ngày 04/5/2019, tại khu vực đường đê Sông Lô thuộc thôn Yên Lương, xã Tứ Yên, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc Phạm Văn Đ có hành vi cướp 01 chiếc xe mô tô Honda Wave RXS-AT BKS: 88B1-036.40 trị giá 6.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Q. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, Đ chưa kịp tiêu thụ thì bị bắt giữ.
Hành vi của bị cáo nêu trên đã phạm vào tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:…
h) Tái phạm nguy hiểm”...
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe và tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vậy cần phải xử lý nghiêm để cải tạo riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bản thân bị cáo đã bị Tòa án nhân dân Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 năm tù về tội Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vậy cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập và không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét.
Về vật chứng vụ án: 01 bộ quần áo màu xanh và 01 đôi dép của Phạm Văn Đông. Đông không đề nghị trả lại, do không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy; 01 chiếc mũ bảo hiểm của chị Nguyễn Thị Q. Chị Q không đề nghị trả lại, do không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với bà Đào Thị Trang, không biết Đ thực hiện hành vi cướp chiếc xe mô tô trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Lô không đề cập xử lý là phù hợp pháp luật.
Về án phí: Bị cá0 phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Cướp tài sản”
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 04/5/2019).
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 bộ quần áo màu xanh, 01 đôi dép, 01 chiếc mũ bảo hiểm để tiêu hủy (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2019 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Buộc bị cáo Phạm Văn Đông phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Nơi nhận
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -VKSND huyện Sông Lô; -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà
- Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Công an huyện Sông Lô;
- Chi cục THADS huyện Sông Lô;
- Bị cáo, bị hại;
- Lưu hồ sơ, Văn phòng.
Nguyễn Bình Thuận THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận -VKSND huyện Sông Lô; -VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Sông Lô; - Chi cục THADS huyện Sông Lô; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Bình Thuận |