vanban.org

Bản án 31/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Tuyên án 24/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Danh S phạm tội cố ý gây thương tích.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết. Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 cây dao Thái Lan, cán bằng nhựa, màu vàng, chiều dài 21,2 cm; chiều dài cán dao 9,8cm, trên cán dao có dòng chữ KIWI, lưỡi dao bằng kim loại, dài 11,4… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Danh S phạm tội cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HIỂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2019/HS- ST
Ngày: 24 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HIỂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Tỷ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Xuân Thanh.

Ông Trần Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đ – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2019/TLST - HS ngày 05 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Danh S, sinh năm 1990 tại huyện H, tỉnh Kiên Giang; tên gọi khác; Không; nơi cư trú: Ấp V, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Khơme; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn H và bà Thị H; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày 04 tháng 7 năm 2019 chuyển tạm giam ngày 09 tháng 7 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngọc Hiển “có mặt”.

Bị hại: Anh Bùi Văn B, sinh năm 1993 “có mặt”.

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 01/7/2019 phương tiện tàu cá KG 91284 - TS do thuyền trưởng Nguyễn Văn N điều khiển đánh bắt thủy sản trên vùng biển cách của biển R, huyện N, tỉnh Cà Mau khoảng 18 hải lý, lúc này các thuyền viên sau khi nhậu xong đã ngủ, riêng Danh S còn thức bấm điện thoại. Lúc này Danh S đói bụng nên xuống bếp kiếm thức ăn thì thấy Bùi Văn B đang nấu mì nên S kêu anh B nấu cho S 01 gói mì để ăn nhưng B không nấu. Ngay lúc này S bước đến tủ đồ cá nhân của mình lấy một con dao Thái Lan, cầm bằng tay phải đâm hai dao vào bụng anh B làm anh B bị thương. Anh B kêu anh N đang nằm ngủ gần đó cho anh N biết sự việc nên anh N thức dậy truy hô mọi người thức dậy băng bó vết thương và chở anh B vào Đồn Biên phòng R, huyện N trình báo sự việc.

Ngày 03 tháng 7 năm 2019 anh B có đơn yêu cầu xử lý hình sự và giám định thương tích.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 166/TgT ngày 04/7/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau xác định tỉ lệ thương tích của anh Bùi Văn B là cụ thể:

- Một vết thương vùng thượng vị lệch trái, kích thước 05 cm x 0,2 cm, tỷ lệ 02 %.

- Một vết thương vùng hạ sườn trái kích thước 3,5 cm x 0,2cm, tỷ lệ 02%.

- Một vết phẩu thuật đường giữa từ thượng vị rốn, kích thước 15,5cm x 02 tỷ lệ 03 %.

- 01 vết dẫn lưu vùng hông phải, kích thước 02cm x 01cm, tỷ lệ 01%.

- Thủng gan vùng hạ phân thùy IV đã khâu cầm máu, tỷ lệ 31%.

- Thủng dạ dày vùng bờ cong nhỏ đã khâu, tỷ lệ 31%.

- Thủng đại tràng ngang đã phẩu thuật làm hậu môn nhân tạo, tỷ lệ 41%.

Tổng tỷ lệ thương tích là 74%.

Tại bản Cáo trạng số 34/CT- VKS ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển truy tố bị cáo Danh S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội gây thương tích cho bị hại anh Bùi Văn B như cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm dân sự bị hại đã được bị cáo bồi thường thỏa đáng nên không đặt ra yêu cầu xem xét.

Về trách nhiệm hình sự bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Danh S từ 6 năm đến 7 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về trách nhiệm dân sự bị hại đã được bồi thường thỏa đáng nên không yêu cầu do đó không đặt ra xem xét.

Về vật chứng: 01 cây dao Thái Lan, cán bằng nhựa, màu vàng, chiều dài 21,2 cm; chiều dài cán dao 9,8cm, trên cán dao có dòng chữ KIWI, lưỡi dao bằng kim loại, dài 11,4cm, rộng 1,6cm, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển đang quản lý vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa bị cáo có lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định Tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ngọc Hiển, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hiển, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 01/7/2019 trong quá trình đi đánh bắt thủy sản tại vùng biển huyện N, tỉnh Cà Mau, sau khi nhậu xong bị cáo kêu bị hại nấu mì cho mình ăn, tuy nhiên bị hại không thực hiện nên bị cáo bực tức và có hành vi dùng dao cán vàng đâm bị hại 02 dao gây thương tích cho bị hại. Hậu quả của việc bị cáo đậm bị hại tại bản kết luận tỷ lệ thương tích số 166/TgT ngày 04/7/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Cà Mau xác định tỉ lệ thương tích của bị hại với tổng tỷ lệ thương tích là 74%.

Vật chứng của vụ án thu giữ được là: 01 cây dao Thái Lan, cán bằng nhựa, màu vàng , chiều dài 21,2 cm; chiều dài cán dao 9,8cm, trên cán dao có dòng chữ KIWI, lưỡi dao bằng kim loại, dài 11,4cm, rộng 1,6cm. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Danh S phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Để pháp luật được nghiêm minh thì hành vi của bị cáo được đưa ra xét xử trước phiên tòa hôm nay là cần thiết, để có thời gian giáo dục bị cáo thành người tốt đồng thời ngăn ngừa tội phạm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại mà cụ thể là anh Bùi Văn B, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương, vi phạm pháp luật hình sự nên cần được xử lý. Bị cáo đã biết rõ sức khỏe của người khác là vốn quý, không ai có quyền xâm hại một cách trái pháp luật, thế nhưng chỉ vì mâu thuẩn không đáng có, xem thường pháp luật, sức khỏe của người khác bị cáo gây thương tích cho bị hại. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, chỉ gì mâu thuẫn không đáng có mà bị cáo thực hiện hành vi có tính chất côn đồ, dùng hung khí nguy hiểm, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra.

Xét về nhân thân của bị cáo không có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử đã có sự cân nhắc, đánh giá mức độ, tính chất của vụ án xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cho bị cáo cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo để có mức án phù hợp. Do đó đề nghị của kiểm sát viên về hình phạt là tương xứng nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường thỏa đáng, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về vật chứng gồm: 01 cây dao Thái Lan, cán bằng nhựa, màu vàng , chiều dài 21,2 cm; chiều dài cán dao 9,8cm, trên cán dao có dòng chữ KIWI, lưỡi dao bằng kim loại, dài 11,4cm, rộng 1,6cm đã không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 4 Điều 134; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Danh S phạm tội cố ý gây thương tích. Xử phạt bị cáo 7 (bảy) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/7/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.

Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 cây dao Thái Lan, cán bằng nhựa, màu vàng, chiều dài 21,2 cm; chiều dài cán dao 9,8cm, trên cán dao có dòng chữ KIWI, lưỡi dao bằng kim loại, dài 11,4cm, rộng 1,6cm. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hiển đang quản lý vật chứng theo biên bản bản bàn giao vật chứng ngày 01 tháng 11 năm 2919.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ