vanban.org

Bản án 31/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 30/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xA BKS: 34L9 -7100 có số khung 421368, số máy 40021368 đã cũ; Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại chuôi bọc nhựa màu xA đã cũ, 01 chiếc kìm bằng kim loại có chuôi màu đỏ đen dài 17 cm đã cũ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƢƠNG TÀI
TỈNH BẮC NINH
-------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2019/HS - ST
Ngày 30/8/2019

NHÂN DA

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG TÀI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Minh Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Vừng

Ông Nguyễn Xuân Quốc

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Xuân Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lương Tài.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thủy – Kiểm sát viên

Ngày 30/8/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân huyện Lương Tài xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2019/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Hoàng Văn N – Sinh năm 1975

HKTT: Khu 3 – Phường ThA TB – Thành phố Hải Dương – Tỉnh Hải Dương

Hiện trú tại: TĐ – TM – Thành phố Hải Dương - Tỉnh Hải Dương

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: N; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N; Con ông Hoàng Văn S và con bà Ngô Thị Đặt; Có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Năm 1999 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án; Năm 2002 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xử 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Bị cáo đã được xóa án tích; Theo Quyết định số 2878/QĐ-UB ngày 15/7/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương bị đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản và gây rối trật tự công cộng, đã chấp hành xong ngày 22/6/2005. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2019 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại phiên tòa).

*Người bị hại: - Ông Ngô Xuân T – SN 1942 (vắng mặt tại phiên tòa)

- Bà Nguyễn Thị S – SN 1948 (vắng mặt tại phiên tòa)

Cùng TT: TT – MT – Lương Tài – Bắc Ninh

- A Ngô Văn A – SN 1988 (vắng mặt tại phiên tòa)

- Bà Nguyễn Thị H – SN 1962 (vắng mặt tại phiên tòa)

Cùng TT: ĐT – MT – Lương Tài – Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên Hoàng Văn N nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 0h00 ngày 04 tháng 5 năm 2019, N điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS: 34L9 – 7100 của mình đi từ nhà ở xã TM - Hải Dương đến khu vực xã MT, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh mục đích xem ai sơ hở để trộm cắp gà. Trước khi đi, N chuẩn bị 01 kéo sắt, 01 kìm sắt cất giấu vào túi quần để làm công cụ phục vụ cho việc trộm cắp tài sản. Khi đến thôn TT, xã MT, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, N dựng chiếc xe mô tô trên tại ngôi mộ đầu thôn rồi vào một nhà dân ven đường, N dùng kìm sắt bẻ gãy dây thép gai, vào khu vực chuồng trại nhà dân, lục tìm nhưng không thấy tài sản nên N bỏ đi. Tiếp đó, N đến nhà ông Ngô Xuân T ở cùng thôn, trèo tường vào, đi đến chuồng gà nhà ông T, dùng tay bắt 04 con gà ta gồm 03 con gà mái và 01 con gà trống, trói chân và cất giấu vào trong bao tải, sau đó để số gà trên ở phía ngoài, cạnh bờ tường vành lao nhà ông T. N tiếp tục trèo tường vào nhà A Ngô Văn A, N đi đến chuồng gà, dùng tay bắt 02 con gà chọi nhà A A, trói chân rồi mang để ở vườn. N trèo qua tường nhà A Ngô Văn A để đến nhà bà Nguyễn Thị H, N bắt được 02 con gà ta nhà bà H, trói chân lại rồi trèo quay lại nhà A A để 02 con gà nhà bà H cùng 02 con gà nhà A A tại vườn. N quay lại nhà bà H, dùng kìm, kéo sắt cắt rào chắn, chui sang nhà bà Nguyễn Thị S, N bắt 02 con gà Đông Tảo, cất giấu vào 01 chiếc bao mà N vừa lấy được rồi quay lại nhà A A, cất giấu tổng số 06 con gà đã bắt được vào bao, trèo tường sang nhà ông T rồi trèo ra ngoài đường. Ngay sau khi N thu lượm đủ 10 con gà vừa trộm cắp của 04 gia đình người bị hại, N đang lấy xe mô tô để đi tiêu thụ thì bị Công an xã MT bắt quả tang.

Tại kết luận định giá tài sản ngày 04/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lương Tài kết luận: 10 con gà bao gồm 02 gà Đông Tảo, 02 con gà chọi, 06 con gà ta có tổng trọng lượng 24,9 kg có giá trị là 2.020.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 31/CT – VKS - LT ngày 15/7/2019 của VKSND huyện Lương Tài, đã truy tố Hoàng Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng cũng đã xác định định đã nhận lại tài sản là số gà mà bị cáo trộm cắp, nay không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Tài, sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự với bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Hoàng Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:Hoàng Văn N từ 7 đến 10 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo;

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xA BKS: 34L9 -7100 có số khung 421368, số máy 40021368 đã cũ; tịch thu và tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại chuôi bọc nhựa màu xA đã cũ, 01 chiếc kìm bằng kim loại có chuôi màu đỏ đen dài 17 cm đã cũ.

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà, không trA luận gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát không trA luận gì thêm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, trA luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với cáo trạng của VKSND huyện Lương Tài, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 0h00 ngày 04 tháng 5 năm 2019, tại xã MT, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, Hoàng Văn N đã có hành vi lén lút trộm cắp 10 con gà, trong đó có 02 con gà Đông Tảo, 02 con gà trọi, 06 con gà ta có tổng trọng lượng là 24,9 kg có giá trị thành tiền là 2.020.000 đồng của các bị hại là ông Ngô Xuân T, A Ngô Văn A, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị H. Sau khi trộm cắp được số gà trên, N đang lấy xe mô tô của mình là chiếc xe máy Wave màu xA BKS: 34L9 -7100 để mang số gà đi tiêu thụ thì bị Công an xã MT bắt quả tang. Do đó, đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự, an ninh, an toàn trên địa bàn dân cư. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã lợi dụng đêm tối, lén lút vào nhà người khác để trộm cắp tài sản. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã hai lần bị Tòa án xét xử về tội trộm cắp tài sản và một lần bị đưa vào cơ sở giáo dục về hành vi trộm cắp tài sản và gây rối trật tự công cộng, mặc dù đã được xóa án tích và không còn tiền sự nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Điều đó cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, coi thường pháp luật nên cần áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc là cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới giúp bị cáo có thời gian cải tạo, tu dưỡng thành người có ích cho xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị bắt tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên khi lượng hình cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với N là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại là ông Ngô Xuân T, bà Nguyễn Thị S, A Ngô Văn A, bà Nguyễn Thị H đều đã nhận tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về tang vật trong vụ án: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ 10 con gà của những người bị hại, sau khi định giá đã trả cho người bị hại theo quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét. Đối với chiếc xe máy Wave màu xA BKS: 34L9-7100 thu giữ của N, được xác định là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; đối với 01 chiếc kéo bằng kim loại chuôi bọc nhựa màu xA đã cũ, 01 chiếc kìm bằng kim loại có chuôi màu đỏ đen dài 17cm đã cũ thu giữ của N là công cụ dùng vào việc phạm tội do không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Hoàng Văn N 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/5/2019.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu xA BKS: 34L9 -7100 có số khung 421368, số máy 40021368 đã cũ;

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo bằng kim loại chuôi bọc nhựa màu xA đã cũ, 01 chiếc kìm bằng kim loại có chuôi màu đỏ đen dài 17 cm đã cũ.

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Hoàng Văn N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án (hoặc niêm yết bản án)./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ