- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Minh Nh, Lê Hoàng Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Hoàng Ph, Đinh Minh Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2019/HS-ST Ngày 16 - 8 - 2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Hữu Khánh
Ông Nguyễn Văn Mầm
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Ngươn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 8 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2019/TLST-HS, ngày 06 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:
- Bị cáo thứ nhất: Đinh Minh Nh, sinh ngày 07 tháng 7 năm 2000 tại huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Ấp Xóm Lá, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Văn Nhi, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Ngọc Núi, sinh năm 1970; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm khỏi nơi cư trú từ ngày 12/02/2019 đến nay.
Bị cáo tại có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo thứ hai: Lê Hoàng Ph, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1993 tại huyện C, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Ấp Tân Hiệp, xã Tân Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Ấp Đức An, xã Phú Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Hoàng Dũng, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Nuốl, sinh năm 1969; Vợ: Nguyễn Thị Út, sinh năm 1992; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại ấp Đức An, xã Phú Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau từ ngày 12/02/2019 cho đến nay.
Bị cáo tại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Cư trú: ấp Cái Quản, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Châu Minh Nhớ, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
Cư trú: ấp Trần Độ, xã Thạnh Phú, huyện C, tỉnh Cà Mau.
2. Nguyễn Trọng Đáng, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Cư trú: ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Thuận, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 02/02/2019 Đinh Minh Nh và Lê Hoàng Ph đang ở nhà của Ph tại ấp Đức An, xã Phú Hưng, huyện C thì Ph hỏi Nh: “còn tiền xài không”, Nh trả lời: “hết tiền rồi”, lúc này Nh và Ph nhìn nhau ra hiệu bằng nháy mắt, tức rủ nhau đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày Nh kêu Ph thức dậy, Nh chạy xe mô tô mang biển kiểm soát 69K3-1632 (xe của Ph) chở Ph ngồi phía sau chạy dọc theo tuyến lộ nông thôn thuộc các xã Phú Hưng và Thạnh Phú, huyện C để tìm nhà người dân sơ hở, đột nhập lấy trộm tài sản.
Khi Nh chạy xe mô tô trên đến nhà anh Châu Minh Nhớ thuộc ấp Trần Độ, xã Thạnh Phú thì cả hai thấy nhà của anh Nhớ không có khóa cửa, Nh dừng xe ngoài lộ cảnh giới, còn Ph thì đi vào nhà anh Nhớ tìm tài sản để lấy trộm, khi vào nhà thì Ph thấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu Huawei - GR5 đang sạc pin và 01 cái ba lô để trong mùng ngủ của anh Nhớ, Ph dùng tay lấy trộm chiếc điện thoại di dộng và cái ba lô trên rồi đem ra xe đưa cho Nh, sau đó Nh tháo sim điện thoại số 0827.272.833 ra ném bỏ rồi để chiếc điện thoại vào cốp xe mô tô, còn cái ba lô thì Nh kiểm tra bên trong không có tài sản nào có giá trị nên Nh đã ném bỏ xuống sông trước nhà. Sau đó Nh tiếp tục chạy xe trên chở Ph đến nhà chị Nguyễn Thị Trà My thuộc ấp Sở Tại, xã Thạnh Phú, lúc này cả hai thấy nhà của chị My không khóa cửa, Ph kêu Nh dừng xe và ở ngoài lộ để cảnh giới, còn Ph thì đi vào nhà của chị My lấy trộm 01 chiếc máy tính bảng hiệu Samsung – Galaxy Tab A67 của anh Nguyễn Trọng Đáng (bạn của chị My) đang sạc pin để trên bộ ván nhà trước, sau đó Ph đi ra nhà sau thì thấy 01 điện thoại di động hiệu Samsung - Grad Prime đang để trong mùng ngủ của anh Đáng nên Ph lấy trộm luôn điện thoại di động trên, Ph đem số tài sản vừa lấy trộm được đem ra xe đưa cho Nh, Nh tiếp tục tháo 02 sim số 0336.717.217 và số 0523.806.726 có trong chiếc điện thoại và sim số 0843.119.459 trong máy tính bảng của anh Đáng ra ném bỏ rồi để vào cốp xe cất giấu.
Nh điều khiển xe mô tô quay trở lại đường cũ lúc chạy vào thì phát hiện có một nhà người dân không khóa cửa (không xác định rõ nhà của ai, địa chỉ cụ thể), Nh dừng xe và ở bên ngoài cảnh giới cho Ph, còn Ph tiếp tục đi vào nhà trộm tài sản, khi Ph đi đến trước cửa nhà thì thấy có một người đàn ông đang nằm ngủ trên bộ ván và bên cạnh có để 01 điện thoại di động hiệu OPPO-A37 màu vàng đồng, lúc này Ph kêu Nh đưa cho Ph một khúc cây để móc lấy chiếc điện thoại, sau khi lấy được chiếc điện thoại thì Ph đưa cho Nh, Nh tháo sim điện thoại ra ném bỏ rồi để điện thoại vào cốp xe.
Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 03/02/2019 Nh chạy xe mô tô chở Ph đến nhà ông Diệp Văn Nô thuộc ấp Hưng Thành, xã Phú Hưng, lúc này cả hai thấy nhà ông Nô không có khóa cửa, đèn trong nhà vẫn còn sáng nhưng không có ai trông coi, nên Ph kêu Nh dừng xe và ở ngoài cảnh giới, Ph đi vào nhà ông Nô thì phát hiện một máy tính xách tay (Laptop) hiệu DELL-Vostro 5568 của anh Nguyễn Văn T (con rễ ông Nô) đang sạc pin và để trong mùng ngủ của Nguyễn Quốc Huy (con ruột anh T) và một cái ba lô đang để ở hàng ba nên Ph lấy cái máy tính xách tay hiệu DELL và ba lô trên đem ra ngoài, Ph đưa cho Nh cái máy tính xách tay và cất giấu trên para xe, còn cái ba lô thì Ph kiểm tra bên trong không có tài sản giá trị nên ném bỏ ba lô vào hàng rào trước nhà ông Nô. Trong lúc này con rễ của ông Nô gồm anh T, Hồ Văn Ưng và Hồng Thanh Trọng chở đồ về nhà ông Nô thì phát hiện có người lạ vào nhà, kiểm tra lại tài sản thì phát hiện bị mất trộm máy tính xách tay hiệu DELL nên anh T, anh Ưng, anh Trọng cùng ông Trần Hùng Dũng (dượng rễ anh T) chạy ra lộ tìm tài sản thì thấy Nh đang đậu xe ngoài lộ, lúc này mọi người chạy đến chỗ xe Nh đang đậu kiểm tra thì phát hiện Nh lấy trộm máy tính xách tay trên, mọi người đã bắt giữ Nh lại và trình báo sự việc cho Công an xã Phú Hưng đến lập biên bản bắt quả tang cùng tang vật, Ph thấy Nh bị bắt nên đã bỏ trốn về nhà của Ph. Quá trình điều tra, Đinh Minh Nh và Lê Hoàng Ph đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng đã thu giữ gồm: 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 69K3-1632, số máy HC09E-6662098, số khung RLHHC09087Y842786; 01 (một) máy tính xách tay (Laptop) hiệu DELL-Vostro 5568; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO-A37 màu vàng đồng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei - GR5; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung - Grad Prime; 01 (một) máy tính bảng hiệu Samsung - Galaxy Tab A67; 01 (một) chai xịt hơi cay hiệu NATO.
Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 11/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện C kết luận:
- 01 (một) máy tính xách tay (Laptop) hiệu DELL-Vostro 5568, mua năm 2010 có giá trị thực tế: 11.690.000 đồng x 20% = 2.338.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei - GR5, mua tháng 12/2016 có giá trị thực tế: 1.900.000 đồng x 40% = 760.000 đồng.
- 01 (một) máy tính bảng hiệu Samsung - Galaxy Tab A67, chưa xác định thời gian sử dụng có giá trị thực tế: 3.290.000 đồng x 30% = 987.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO-A37 màu vàng đồng, chưa xác định thời gian sử dụng có giá trị thực tế: 2.990.000 đồng x 60% = 1.794.000 đồng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung - Grad Prime, chưa xác định thời gian sử dụng có giá trị thực tế: 1.900.000 đồng x 30% = 570.000 đồng.
Như vậy tổng giá trị các tài sản mà Nh và Ph đã trộm cắp là 6.449.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn đồng)..
Tại phiên tòa bị cáo Đinh Minh Nh trình bày: Vào khoảng 23 giờ ngày 02/02/2019 bị cáo chạy xe của Ph biển kiểm soát 69K3-1632 chở Ph ngồi phía sau chạy dọc theo tuyến lộ nông thôn thuộc các xã Phú Hưng và Thạnh Phú, huyện C để tìm nhà người dân sơ hở, đột nhập lấy trộm tài sản. Tổng giá trị các tài sản mà bị cáo và Ph đã trộm cắp là 6.449.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Hoàng Ph trình bày: Vào khoảng 23 giờ ngày 02/02/2019 bị cáo Nh chạy xe của Ph biển kiểm soát 69K3-1632 chở Ph ngồi phía sau chạy dọc theo tuyến lộ nông thôn thuộc các xã Phú Hưng và Thạnh Phú, huyện C để tìm nhà người dân sơ hở, đột nhập lấy trộm tài sản. Tổng giá trị các tài sản mà bị cáo và Ph đã trộm cắp là 6.449.000 đồng.
Tại các lời khai có tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị hại Nguyễn Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm anh Châu Minh Nhớ và Nguyễn Trọng Đáng trình bày: Đã nhận lại đầy đủ tài sản đã bị mất trộm, không bị hư hỏng gì và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên không đề cập đến để xử lý.
Bản cáo trạng số: 25/KSĐT-TA, ngày 03 tháng 5 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố các bị cáo Đinh Minh Nh, bị cáo Lê Hoàng Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Đinh Minh Nh, bị cáo Lê Hoàng Ph tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đinh Minh Nh từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Hoàng Ph từ 09 tháng tù tù đến 01 năm tù .
Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phần án phí, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nh thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Ph thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ do hoàn cảnh gia đình khó khăn, các bị cáo là lao động chính trong gia đình, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo biết ăn năn hối cải trước việc làm của mình nên xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Đối với các bị cáo Lê Hoàng Ph, Đinh Minh Nh: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lê Hoàng Ph, Đinh Minh Nh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo khai nhận do lười lao động, lại muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian từ ngày 02/02/2019 đến ngày 03/02/2019, hai bị cáo đã thực hiện tổng cộng 04 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C. Hành vi chủ yếu của các bị cáo là lợi dụng trời tối, chủ sở hữu sơ hở trong quản lý tài sản, các bị cáo đã lén lút tiếp cận, dùng công cụ chuẩn bị sẵn để lấy trộm tài sản. Mục đích là sau khi có được tài sản, các bị cáo mang đi tiêu thụ tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp là 6.449.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn đồng). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố các bị cáo Lê Hoàng Ph, Đinh Minh Nh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong vụ án này bị cáo Ph và Nh là đồng phạm mang tính chất giản đơn. Bị cáo Ph là người khởi xướng và thực hành tích cực nhất, bị cáo trực tiếp vào nhà các bị hại để lấy tài sản. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò chính. Bị cáo Nh là người thực hành và giúp sức tích cực, trực tiếp đứng canh đường, sau khi lấy được tài sản bị cáo đã dùng xe chở Ph tiếp tục đi trộm tài sản người khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò thứ hai trong vụ án.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa bàn huyện C. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt nghiêm để tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, khai báo trung thực về hành vi phạm tội của mình và các tình tiết có liên quan đến vụ án; các bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, nhận thức sâu sắc về hành vi phạm tội của mình đã thực hiện; phạm tội lần này là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Trong thời gian bị cấm đi khỏi nơi cư trú, các bị cáo chấp hành nghiêm sự quản lý của địa phương, các bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Các vấn đề khác có liên quan:
Đối với 01 (một) sim điện thoại số 0827.272.833 và 01 (một) cái ba lô của anh Châu Minh Nhớ; 03 (ba) sim điện thoại gồm các số 0336.717.217, 0523.806.726 và 0843.119.459 của anh Nguyễn Trọng Đáng. Qua điều tra các bị can Nh và Ph khai nhận sau khi lấy trộm tài sản thì Nh đã tháo các sim số trên ném bỏ, riêng cái ba lô không có tài sản giá trị nên cũng ném bỏ xuống sông. Hiện anh Nhớ và anh Đáng không có yêu cầu các bị cáo bồi thường, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không đề cập xứ lý là phù hợp.
Đối với 01 (một) cái ba lô mà anh Nguyễn Văn T bị mất trộm, các bị cáo Nh và Ph khai nhận có lấy trộm tài sản trên nhưng sau khi kiểm tra bên trong ba lô không có tài sản giá trị, nên Ph đã ném bỏ ba lô trên vào hàng rào trước nhà ông Nô, hiện anh T đã tìm thấy cái ba lô trên và không có yêu cầu bồi thường, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không đề cập xử lý là có cơ sở.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 69K3-1632, số máy HC09E-6662098, số khung RLHHC09087Y842786; 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung; 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu OPPO-A37 màu vàng đồng và 01 (một) chai xịt hơi cay hiệu NATO, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện C bảo quản, chờ xử lý là hoàn toàn có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại anh Nguyễn Văn T (con ruột ông Nguyễn Văn Mừng) và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo bồi thường hay bồi hoàn khoản tiền nào. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết phần trách nhiệm dân sự.
Vật chứng vụ án: Hiện bị hại Nguyễn Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm anh Châu Minh Nhớ và Nguyễn Trọng Đáng đã nhận lại đầy đủ tài sản đã bị mất trộm, không bị hư hỏng gì và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 69K3-1632, số máy HC09E-6662098, số khung RLHHC09087Y842786 do ông Nguyễn Thành Tâm đứng tên giấy tờ. Do Ph mua xe của ông Tâm vào năm 2009 (làm giấy tay chưa chuyển tên), nay ông Tâm đã chết, Ph dùng xe này làm phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy tịch thu sung vào công quỷ là phù hợp.
Đối với 01 chai xịt hơi cay hiệu NATO không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung là của bị Ph, xét không có liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo Ph là có cơ sở.
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO-A37 màu vàng đồng hiện nay chưa chứng minh được ai là chủ sở hữu nên tiếp tục giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện C quản lý, sau khi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra làm rỏ sẽ tiến hành xử lý sau.
Hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Lê Hoàng Ph, Đinh Minh Nh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Minh Nh 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo được đối trừ thời gian tạm giữ từ ngày 03/02/2019 đến ngày 12/02/2019.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Màu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng Ph 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phú Hưng, huyện C, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chai xịt hơi cay hiệu NATO.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỷ Nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 69K3-1632, số máy HC09E-6662098, số khung RLHHC09087Y842786.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Lê Hoàng Ph 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung.
Giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện C quản lý 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO-A37 màu vàng đồng, sau khi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C điều tra làm rỏ sẽ tiến hành xử lý sau.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/5/2019 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đinh Minh Nh phải chịu 200.000 đồng; bị cáo Lê Hoàng Ph phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với Nguyễn Văn T, Châu Minh Nh, Nguyễn Trọng Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện C; - Công an huyện C; - CC-THADS huyện C; - Bị cáo; Bị hại; NCQLNVLQ; - Lưu HS-VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Minh Tính |