- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Mỹ X-Nguyễn Khởi E"
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! TỈNH!CÀ!MAU Bản án số: 31/2019/HNGĐ-ST Ngày: 03-5-2019 |
V/v ly hôn
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!THỚI!BÌNH,!TỈNH!CÀ!MAU!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Vương
2. Ông Lý Quốc Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyền Kiều Trang là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện!Thới!Bình,!tỉnh!Cà!Mau tham gia phiên toà: Ông Hữu Duy Khánh, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐXX-ST ngày 19 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Mỹ X, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp QT, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
2. Bị đơn: Anh Nguyễn A, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp QT, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!!
*Tại đơn khởi kiện ngày 15/01/2019 cũng như tại phiên tòa chị Trần Mỹ X trình bày:
Chị X và anh A tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 20/9/2016. Thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, thường hay cãi nhau làm phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 3/2018 đến nay. Xét thấy không thể tiếp tục chung sống nữa nên chị X yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn A.
Con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 08/4/2012 hiện con chung do chị X nuôi dạy. Khi ly hôn chị X yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung nhưng không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Chị X và anh A tự thỏa thuận; nợ chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.
Về nội dung: Tại hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thể hiện chị X và anh A chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị X yêu cầu ly hôn với anh A. Do đó, áp dụng Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị X và anh A được ly hôn. Con chung giao chị X nuôi dạy, chị X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị xem xét; tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không đề nghị xem xét.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Mỹ X khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn A. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh A có địa chỉ tại ấp QT, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị X thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và có tống đạt hợp lệ cho anh A nhưng anh A không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị X và vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử và có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng này cho anh A nhưng anh A vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh A theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[3] Về hôn nhân: Chị Trần Mỹ X và anh Nguyễn A tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 20/9/2016. Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa chị X cho rằng thời gian chung sống giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hôn nhân không hạnh phúc nên chị X yêu cầu ly hôn với anh A. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa chị X và anh A không đạt được nên anh chị đã ly thân từ tháng 3/2018 đến nay mà không có thiện chí đoàn tụ. Xét thấy, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để chị X và anh A có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh A vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Trần Mỹ X và anh Nguyễn A được ly hôn là phù hợp.
[4] Về con chung: Thời gian chung sống chị Trần Mỹ X và anh Nguyễn A có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 08/4/2012 (giới tính nữ). Xét thấy, tại biên bản ghi lời khai ngày 18/01/2019 cháu T có yêu cầu và nguyện vọng được sống cùng với mẹ là chị Trần Mỹ X. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và yêu cầu chị X yêu cầu nuôi dạy cháu T nhưng anh A không có ý kiến bằng văn bản và vắng mặt tại các lần hòa giải xét xử không có lý do. Hơn nữa, việc cháu T có nguyện vọng được sống cùng chị X là phù hợp. Bởi vì, cháu T đã đủ 07 tuổi và đây là yêu cầu, là sự tự nguyện của cháu T được pháp luật bảo vệ; cháu T hiện chị X nuôi dạy việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu T. Vì Vậy, cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Cẩm T cho chị Trần Mỹ X nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và gia đình.
Chị X không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[5] Về tài sản chung: Chị X xác định thời gian chung sống anh chị có tài sản chung nhưng anh chị đã tự thỏa tuận xong và không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp theo quy định tại Điều 59 luật Hôn nhân và gia đình.
[6] Về nợ chung: Chị X xác định không có nợ chung, vợ chồng không có nợ người ngoài và người ngoài cũng không nợ vợ chồng nên không yêu cầu giải quyết. Tại đơn xác nhận ngày 15/01/2019 của Ủy ban nhân dân xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xác nhận không có ai yêu cầu về nợ đối với vợ chồng anh A và chị X tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Mỹ X phải chịu án phí – Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56, 59, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Chị Trần Mỹ X và anh Nguyễn A được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 08/4/2012 (giới tính nữ) cho chị Trần Mỹ X tiếp tục nuôi dạy. Anh Nguyễn A không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh A không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
3.Tài sản chung: Chị Trần Mỹ X và anh Nguyễn A tự thỏa thuận và không có yêu cầu nên không xét.
4.Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Mỹ X phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 15 tháng 01 năm 2019 chị X có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005896 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
6.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Báo cho chị X biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh A vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; -VKSND huyện Thới Bình; -Chi cục THADS huyện Thới Bình; -TAND tỉnh Cà Mau; -Lưu hồ sơ. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! !!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TOÀ! !!!!!!!Nguyễn!Thị!Khoa! |