vanban.org

Bản án 31/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn T được ly hôn với chị Trần Thị H.

Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0003660 ngày 25 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Về quyền kháng cáo: Báo cho đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn T được ly hôn với chị Trần Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TAND HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 31/2019/HNGĐ- ST
Ngày 26/4/2019
V/v: Ly hôn giữa anh T với chị H.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Xuân Chung;

2. Ông Nguyễn Hữu Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Hương Giang- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Ông Thân Mạnh Thắng- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 599/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc: Ly hôn giữa anh T với chị H theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXX- ST ngày 13 tháng 13 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt ).

2. Bị đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1993

Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã S, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở: Thôn N, xã P, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Hoàng Văn T trình bày: Năm 2011, anh kết hôn với chị Trần Thị H. Trước khi kết hôn anh và chị H có được tự nguyện tim hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Lục Nam. Sau đám cưới chị H về nhà anh làm dâu ngay. Anh và chị H chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì nẩy sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi nhau, nhiều lần chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở, rồi lại về đoàn tụ gia đình cùng anh. Tháng 2/2018 âm lịch, chị H đã bỏ hẳn về nhà mẹ đẻ chị ở. Từ đó anh và chị H chấm dứt mọi quan hệ tình cảm cũng như kinh tế, ai sống thế nào thì mặc, không ai quan tâm đến ai. Nguyên nhân vợ chồng anh xẩy ra mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và anh H đã hết, không thể đoàn tụ gia đình được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Về con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung đối với tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Hoàng Văn T vắng mặt.

Tại biên bản lấy lời khai, lời khai tiếp theo và tại phiên tòa, bị đơn chị Trần Thị H trình bày: Năm 2011, chị kết hôn với anh Hoàng Văn T. Trước khi kết hôn chị và anh T có được tự nguyện tim hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Lục Nam. Sau đám cưới chị về nhà anh T làm dâu ngay. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2015 thì nẩy sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên xẩy ra xích mích, nhiều lần anh T đã đánh chi. Nguyên nhân là do anh T có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Tháng 4/2018, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở N, xã P ăn ở. Từ khi chị về nhà bố mẹ đẻ chị ở, anh T không xuống đón chị về đoàn tụ gia đình. Mặc dù vậy, nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T vẫn còn, anh Tyêu cầu ly hôn, chị không đồng ý.

Về con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung đối với tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cũng như tại phiên tòa. Đương sự chấp hành đúng nội quy phiên tòa.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho anh T được ly hôn với chị H. Về con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung đối với tài sản không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[ 1 ]. Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự trong vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, chị Trần Thị H có mặt, anh Hoàng Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

[ 2 ]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn T kết hôn với chị Trần Thị H trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Lục Nam ngày 23 tháng 3 năm 2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Ban đầu vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc, sau đó nẩy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm. Anh T và chị H sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế đã lâu. Xét mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho anh T ly hôn chị H. Việc H không đồng ý ly hôn chỉ để gây khó khăn, kéo dài giải quyết vụ án.

[ 3 ]. Về con chung: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[ 4 ]. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung đối với tài sản: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[ 5 ]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[ 6 ]. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 25, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn T được ly hôn với chị Trần Thị H.

2. Về án phí: Anh Hoàng Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0003660 ngày 25 tháng 12 năm 2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Báo cho đương sự có mặt biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ