vanban.org

Bản án 31/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Ngọc L được ly hôn với ông Lê Văn C. Về con chung: Giao con chung là Lê Thị Huyền T, sinh ngày 04/8/2016 cho bà Trần Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Ngọc L - Lê Văn C"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EAKAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:31/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 28/11/2019.
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhã Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hằng và ông Y Nik Êban.

- Thư ký phiên toà: Ông Y Kăn Niê - Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 28/11/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk. Toà án nhân dân huyện EaKar mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 266/2019/TLST – HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2019. Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2019/QĐST – HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2019/QĐST – HNGĐ, ngày 12 tháng 11 năm 2019. Giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc L, sinh năm: 1986.

Trú tại: Thôn 11, xã P, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

* Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm: 1986.

Trú tại: Buôn E, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)

NHẬN THẤY

*Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Ngọc L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi xây dựng gia đình với ông Lê Văn C trên cơ sở tự nguyện có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 11/09/2014.

Sau khi về chung sống với nhau cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng sống không hợp tính, bất đồng quan điểm sống, thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt rồi xa lánh dần. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay.

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên tôi có nguyện vọng xin được ly hôn với ông Lê Văn C.

- Về con chung: Có 01 con chung, tên là Lê Thị Huyền T, sinh ngày 04/8/2016.

Nguyện vọng về con: Tôi có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Lê Thị Huyền T cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Lê Văn C phải trợ cấp nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Chúng tôi không có tài sản chung, không có nợ chung và không có tài sản cho người khác vay, vì vậy tôi không yêu cầu Toà án đề cập giải quyết.

Ngày 12/11/2019, Tòa án nhân dân huyện EaKar mở phiên tòa xét xử vụ án, tuy nhiên tại phiên tòa bị đơn ông Lê Văn C vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa bị đơn ông Lê Văn C xác định quá trình hôn nhân và con chung mà bà L trình bày là hoàn toàn đúng, nhưng về tình cảm vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nên đề nhị Hội đồng xét xử giai quyết cho vợ chồng về đoàn tụ.

Bà Trần Ngọc L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho bà Trần Ngọc L được ly hôn với ông Lê Văn C và xin được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Thị Huyền T. Ngoài ra, bà L không yêu cầu gì thêm.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuï lyù vuï aùn ñuùng thaåm quyeàn, thu thaäp chöùng cöù ñaày ñuû, ñuùng quy ñònh phaùp luaät, vieäc ban haønh caùc vaên baûn toá tuïng ñuùng veà noäi dung vaø hình thöùc, göûi caùc vaên baûn toá tuïng vaø chuyeån hoà sô cho Vieän kieåm saùt nghieân cöùu, vieäc caáp, toáng ñaït, niêm yết vaên baûn toá tuïng cho nhöõng ngöôøi tham gia toá tuïng ñuùng thôøi haïn quy ñònh. Tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và HĐXX đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục theo quy định của BLTTDS về phiên tòa sơ thẩm.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho bà Trần Ngọc L được ly hôn với ông Lê Văn C. Giao cháu Lê Thị Huyền T, sinh ngày 04/8/2016 cho bà Trần Ngọc L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và công nợ: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

- Áp dụng Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để tính án phí theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đơn khởi kiện của bà Trần Ngọc L đề ngày 10/7/2019, Tòa án nhân dân huyện EaKar xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện EaKar thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung: Bà Trần Ngọc L và ông Lê Văn C kết hôn trên cơ sở tình yêu tự nguyện, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nên là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi về chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2016 cho đến nay, hai vợ chồng không liên lạc, không hề quan tâm hay chăm sóc gì đến nhau. Hơn nữa, qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định ông C và bà L sống tại dịa phương được 01 năm thì bà L dắt con đi nơi khác sinh sống nên chính quyền địa phương không rõ ông bà có mâu thuẫn gì, ông bà đã sống ly thân từ đó đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho bà Trần Ngọc L được ly hôn với ông Lê Văn C.

Về con chung: Bà L và ông C có con chung là cháu Lê Thị Huyền T, sinh ngày 04/8/2016. Bà L có nguyện vọng nuôi dưỡng và chăm sóc con chung đến tuổi trưởng thành, để đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh về tâm, sinh lý, cũng như để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu là hoàn toàn phù hợp và thỏa đáng nên căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu Lê Thị Huyền T, sinh ngày 04/8/2016 cho bà Trần Ngọc L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về trợ cấp nuôi dưỡng: Bà L không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết

Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.

Về án phí: Bà Trần Ngọc L phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 203, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ngọc L.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Ngọc L được ly hôn với ông Lê Văn C.

- Về con chung: Giao con chung là Lê Thị Huyền T, sinh ngày 04/8/2016 cho bà Trần Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Ngọc L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Ông Lê Văn C được quyền đi lại thăm nom con chung và không ai được cản trở. Tuy nhiên, ông C không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết, các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung.

- Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Bà Trần Ngọc L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ea Kar, theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0013213, ngày 10/07/2019.

- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ