vanban.org

Bản án 31/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!ĐÔNG!HÒA!
TỈNH!PHÚ!YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 10 - 2019.
Về việc tranh chấp: Xin ly hôn.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: !Bà Lê Thanh Huệ.
Các"Hội"thẩm nhân"dân:
1. Bà Trần Thị Thu Ba;
2. Ông Đỗ Văn Trí.
huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Ông Dương Thanh Nhuận– Kiểm sát viên.
thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 155/2019/TLST- HNGĐ
ngày 06 tháng 6 năm 2019 về tranh chấp “Xin"ly"hôn”,"theo quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 30/2019/QĐXX- ST ngày 17 tháng 9 năm 2019; giữa các đương
sự:
huyện Đ, tỉnh Phú Yên – Vắng"mặt,"có"đơn"xin"vắng"mặt."
huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên – Vắng"mặt."
huyện Đ, tỉnh Phú Yên – Vắng"mặt,"có"đơn"xin"vắng"mặt."
!

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

*"Nguyên"đơn"chị"T"trình"bày:"

- Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào

năm 1996, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh H, chị T sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Sự việc kéo dài và từ tháng 05 năm 2018, anh H bỏ đi khỏi địa phương, không biết đi đâu. Chị T yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, đến nay đã hết thời hạn thông báo tìm kiếm nhưng anh H không có mặt. Chị T nhận thấy tình cảm đã hết, không ai còn quan tâm đến ai nên xin được ly hôn anh H.

- Về con chung: Có 02 con chung tên là V – sinh ngày 19/3/1997, N –

sinh ngày 25/9/2000. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu gì.

- Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh H vắng mặt tại nơi cư trú từ tháng 5 năm 2018, đã được triệu

tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, đến nay anh H vẫn vắng mặt. Do đó, Toà án nhân dân huyện Đông Hòa không tiến hành hoà giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hòa tham gia phiên tòa phát

biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

+Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử,

Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.

+ Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin

ly hôn của chị T; các con đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu gì nên không xét; tài sản chung không yêu cầu nên không xét; Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

!

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị T có đơn xin vắng mặt. Bị đơn anh H bỏ nhà đi khỏi địa

phương từ tháng 5 năm 2018 đến nay, không biết đi đâu. Vào ngày 23/01/2019, Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa ban hành Quyết định số 01/2019/QĐST – VDS chấp nhận yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú và ban hành Thông báo tìm kiếm số 01/2019/TB thông báo tìm kiếm anh H. Đến nay, đã hết thời hạn thông báo, anh H vẫn không có mặt tại Tòa. Do đó, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án “Xin ly hôn” giữa chị T và anh H theo quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiếp tục triệu tập anh H đến Tòa, nhưng anh H vắng mặt. Như vậy, căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H, chị T.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Anh H và chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy

ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào ngày 15 tháng 7 năm 1996, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị T, anh H có mâu thuẫn, thường

xuyên cãi vã. Sự việc kéo dài và hai bên đã tự xa nhau từ tháng 5/2018 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy, mâu thuẫn giữa anh H, chị T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T: Chị T được ly hôn anh H.

[3] Về con chung: 02 con chung V – sinh ngày 19/3/1997, N – sinh ngày

25/9/2000, đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu gì nên không xét.

[4] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị T phải chịu án phí dân sự

sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn: 300.000đ (Ba"trăm"nghìn"đồng)."

Vì"các"lẽ"trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ Điều 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 9, 26, 27 Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị T: Chị T được ly hôn

anh H.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn là 300.000đ

(Ba"trăm"nghìn"đồng). Số tiền này được khấu trừ vào 300.000đ (Ba"trăm"nghìn" đồng)" tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp tại phiếu thu số 0013937 ngày 06/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên. Như vậy, chị T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm."

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15

ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

!!TM/!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

Cỡ chữ