vanban.org

Bản án 31/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lý Tú Tr và anh Sa Khánh L.

Về nuôi con chung: Giao cháu Sa Kiến Ch, sinh ngày 26-4-2007 cho chị Lý Tú Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị Tr không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Sa Khánh L có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lý Tú Tr khởi kiện xin ly hôn với anh Sa Khánh L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lý Tú Tr và anh Sa Khánh L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 09-9-2019
V/v: Ly hôn giữa chị Tr và anh L

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Duy Khương

2. Bà Huỳnh Phương Lan

Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Quyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019, về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Tú Tr, sinh năm 1986 (Có mặt)

HKTT: Phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Tạm trú: Ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Anh Sa Khánh Long, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25-02-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lý Tú Tr trình bày:

- Về hôn nhân: Vào năm 2005, chị Lý Tú Tr và anh Sa Khánh L quen biết và tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20-02-2006.

Những năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và do anh L không lo làm ăn, thường xuyên tụ tập cùng bạn bè ăn chơi, bài bạc và đá gà dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, chị Tr đã cố gắng chịu đựng và hàn gắn tình cảm để lo cho con nhưng không có kết quả, anh L vẫn không sửa đổi tính tình, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Do đó, chị Tr và anh L đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Tr yêu cầu được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Chị Tr và anh L có 01 người con chung tên Sa Kiến Ch, sinh ngày 26-4-2007, hiện nay đang sống chung với chị Tr. Chị Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Ch, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con vì chị có đủ điều kiện kinh tế nuôi con được.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Sa Khánh L: Không có ý kiến bằng văn bản theo Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và cũng không có mặt theo giấy triệu tập làm việc, Thông báo phiên họp và Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án.

Tại phiên tòa anh L vắng mặt.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Lý Tú Tr đối với bị đơn anh Sa Khánh L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghị án, Toà án nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Sa Khánh L chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lý Tú Tr, Toà án đã làm đầy đủ thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xử vắng mặt bị đơn. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Tú Tr và anh Sa Khánh L chung sống với nhau vào năm 2005 trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20-02-2006, đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lý Tú Tr: Vợ chồng chị Tr và anh L không còn thương yêu, quý trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau nữa, thể hiện qua lời trình bày của chị Tr tại Toà án và qua xác minh tại địa phương: Chị Tr và anh L có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày, nguyên nhân do anh L không lo làm ăn, thường xuyên tụ tập cùng bạn bè ăn chơi, bài bạc và đá gà dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, chị Tr đã cố gắng chịu đựng để chăm lo cho con nhưng anh L vẫn không sửa đổi tính tình, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mặt khác, chị Tr và anh L đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay mà tình cảm vợ chồng vẫn không hàn gắn được. Toà án xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Tr và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Tr xin ly hôn với anh L là có căn cứ để chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị Tr và anh L có 01 người con chung tên Sa Kiến Ch, sinh ngày 26-4-2007, hiện nay đang sống chung với chị Tr. Chị Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Ch, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con vì chị có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế nuôi con được. Xét thấy, trong thời gian chị Tr và anh L sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, cháu Ch vẫn do chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Bên cạnh đó, cháu Ch có ý kiến trong bản khai là theo mẹ, nghị nên giao cháu Ch cho chị Tr tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu của chị Tr được tiếp tục nuôi con chung Sa Kiến Ch. Chị Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh L đúng theo quy định pháp luật nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung và nợ chung giữa chị Tr và anh L được. Mặt khác, tại Toà án cũng như tại phiên toà chị Tr xác nhận trong thời gian chung sống cùng anh L, anh chị không tạo lập được tài sản gì và cũng không có nợ ai. Cho nên về phần tài sản chung và nợ chung Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Thống nhất ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án như đã phân tích và nhận định trên.

Về án phí: Chị Tr là nguyên đơn trong vụ án, do đó chị phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết về án phí, lệ phí Toà án và tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của U ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lý Tú Tr và anh Sa Khánh L.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Sa Kiến Ch, sinh ngày 26-4-2007 cho chị Lý Tú Tr trực tiếp nuôi dưỡng, chị Tr không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Anh Sa Khánh L có quyền, ngh a vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lý Tú Tr phải nộp 300.000 đồng nhưng chị Tr được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009547 ngày 27-02-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, chị Tr không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th䁡a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 .

5. Quyền kháng cáo: Chị Lý Tú Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Sa Khánh L vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ