vanban.org

Bản án 31/2019/DSST — Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "Hợp tác xã"
  • Căn cứ chính? Điều 119 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2019/DSST
Ngày: 30-5-2019
V/v tranh chấp hợp đồng dân sự thuê tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ái Đoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Cao Thị Loan.

2. Ông Từ Ngọc Viễn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Kim Hằng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang: Bà Nguyễn Thị Phi Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 326/2018/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng dân sự thuê tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2019/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Hợp tác xã giao thông vận tải huyện Y.

Địa chỉ: ấp Bình Hòa Đông, xã Bình Nhì, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Văn Vui – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Hồ Thị Nệ, sinh năm 1976; Trú tại: số 302B, Nguyễn Ngọc Ba, Phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 28 tháng 8 năm 2018)

2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X.

Địa chỉ: ấp Long Hòa A, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Văn Bé Sáu trú tại ấp Long Hòa A, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X)

(Có mặt bà Nệ, vắng mặt ông Sáu)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

 Tại đơn khởi kiện ngày 10 tháng 12 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Hợp tác xã giao thông vận tải huyện Y (sau đây gọi tắt là Hợp tác xã) trình bày:

Từ ngày 14/3/2018, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X (sau đây gọi tắt là Công ty), thuê xe lu, xe ben của Hợp tác xã để làm công trình cho Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang. Sau khi kết thúc việc thuê xe thì Công ty còn nợ Hợp tác xã số tiền là 120.000.000 đồng. Công ty có làm cam kết vào ngày 21/4/2018 sẽ trả hết số tiền 120.000.000 đồng cho Hợp tác xã nhưng đến hạn thì Công ty không trả. Đến tháng 7 năm 2018 thì Công ty có trả cho Hợp tác xã số tiền là 30.000.000 đồng, còn nợ lại 90.000.000 đồng. Nay Hợp tác xã yêu cầu Công ty trả cho Hợp tác xã số tiền 90.000.000 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

 Bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng vẫn không có bản tự khai để trình bày ý kiến về việc Hợp tác xã kiện.

Tại tờ trình ngày 30/5/2019, Công ty yêu cầu Hợp tác xã phải có bảng đối chiếu công nợ chi tiết từng ngày thi công, yêu cầu hoàn thiện và thanh lý hợp đồng theo đúng thủ tục pháp lý, làm hồ sơ quyết toán ca máy đã thi công, phải xuất và cung cấp đầy đủ hóa đơn, nộp lại các khoản tạm ứng bằng tiền mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang phát biểu quan điểm như sau: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Thư ký: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán và Thư ký tuân thủ đúng quy định pháp luật về tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Việc tuân theo pháp luật của đương sự: nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Hợp tác xã.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn Hợp tác xã giao thông vận tải huyện Y với bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X là tranh chấp hợp đồng dân sự thuê tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

. Về nội dung: Tại phiên tòa, bà Hồ Thị Nệ là người đại diện theo ủy quyền của Hợp tác xã giao thông vận tải huyện Y yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X trả số tiền là 90.000.000 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Nhận thấy, tại cam kết về việc hoàn trả số tiền thuê xe ban, xe lu ngày 21 tháng 4 năm 2018 có nội dung như sau “Công ty TNHH MTV Văn Sáu có địa chỉ ấp Long Hòa A, xã Đạo Thạnh, TP Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang có thuê xe lu, xe ban của hợp tác xã giao thông vận tải Gò Công Tây đến ngày 18/4/2018 với số tiền tạm tính là 120.000.000 đ còn lại chưa thanh toán hết cho hợp tác xã giao thông vận tải Gò Công Tây nay Cty TNHH MTV Văn Sáu làm cam kết này hứa sẽ trả cho hết số tiền còn lại hợp tác xã giao thông vận tải Gò Công Tây trong ngày 28/4/2018”. Cam kết do ông Phạm Văn Bé Sáu ký tên và đóng dấu.

Xét thấy, theo nội dung cam kết nêu trên thì tính đến ngày 21/4/2018 Công ty còn nợ Hợp tác xã số tiền là 120.000.000 đồng. Công ty hẹn đến ngày 28/4/2018 sẽ trả hết cho Hợp tác xã nhưng sau đó đến tháng 7 năm 2018 Công ty chỉ trả được số tiền 30.000.000 đồng, còn lại số tiền 90.000.000 đồng. Đến nay, Công ty vẫn chưa trả cho Hợp tác xã là vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê tại Điều 481 của Bộ luật Dân sự. Việc Công ty yêu cầu Hợp tác xã phải thực hiện các công việc tại tờ trình ngày 30/5/2019 là không ảnh hưởng đến việc cung cấp chứng cứ chứng minh Công ty có nợ Hợp tác xã theo cam kết ngày 21/4/2019. Do đó việc hợp tác xã yêu cầu Công ty trả số tiền là 90.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với Điều 481 của Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

. Về án phí dân sự sơ thẩm Công ty chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, 92, 147, 189, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 119, 472, 481, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyeân xöû:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hợp tác xã giao thông vận tải huyện Y.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X trả cho Hợp tác xã giao thông vận tải huyện Y số tiền là 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí daân söï sô thaåm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên X phải chịu án phí sơ thẩm là 4.500.000 đồng.

Hợp tác xã giao thông vận tải huyện Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 2.250.000 đồng theo biên lai thu số 0013429 ngày 10/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ