vanban.org

Bản án 31/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 23/04/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận êu cầu kháng cáo của những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M, gồm các bà: Nông Thị P, Nông Hải Y, Nông Bích L1, Nông Hu ền O; sửa về lời tu ên và án phí sơ thẩm của Bản án dân sự sơ thẩm số 13 2018 DS-ST ngà 28 11 2018 của T a án nhân dân hu …

Quyền sử dụng đất: Bác êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M; những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của cụ Trần Thị M gồm có các bà Nông Thị P, bà Nông Hải Y, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O về êu cầu huỷ một phần Hợp đồng tặng cho tài sản ngà 27/6/1999 (Biên bản phân chia tài sản ngày 27… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "Trần Thị M - Nông Thế C3"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận êu cầu kháng cáo của những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M, gồm các bà: Nông Thị P, Nông Hải Y, Nông Bích L1, Nông Hu ền O; sửa về lời tu ên và án phí sơ thẩm của Bản án dân sự sơ thẩm số 13 2018 DS-ST ngà 28 11 2018 của T a án nhân dân hu …
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Đất đai; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 122 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2019/DS-PT
Ngày 23 - 4 - 2019
V/v tranh chấp Hợp đồng
tặng cho tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hồ Đức Châm;

Các Thẩm phán:

Ông Lê Xuân Sơn;

Ông Chu Long Kiếm.

- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Kiều - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Nga - Kiểm sát viên.

Trong các ngày từ 18 đến 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2018/TLPT-DS ngày 21 tháng 12 năm 2018 về việc tranh chấp Hợp đồng tặng cho tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13 2018 DS-ST ngà 28 tháng 11 năm 2018 của T a án nhân dân hu ện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo.

Theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số: 15 2019 QĐPT-DS ngày 30 tháng 01 năm 2019 và Qu ết định hoãn phiên t a ngà 18 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Cụ Trần Thị M (đã chết).

Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của nguyên đơn cụ Trần Thị M gồm:

1. Bà Nông Thị P, sinh năm 1943, địa chỉ: Số 4, đường N, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

2. Bà Nông Hải Y, sinh năm 1961, địa chỉ: Số 17 1, đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

3. Bà Nông Bích L1, sinh năm 1952, địa chỉ: Số 40 7, đường T, phường T1, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

4. Bà Nông Hu ền O, sinh năm 1959, địa chỉ: Số 130, khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

5. Ông Nông Thế Đ (chết năm 2010).

Những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nông Thế Đ, gồm:

5.1. Bà Võ Thị Thu H1; trú tại: Khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

5.2. Anh Nông Thế S; trú tại: Khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

5.3. Anh Nông Thế H2; trú tại: Số nhà 03, hẻm 02, đường N1, khu phố 04, phường 04, thị xã T4, tỉnh Tâ Ninh; vắng mặt.

5.4. Chị Nông Thị Phương M1; trú tại: Thôn P, xã P2, hu ện Q, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

5.5. Chị Nông Thị Phương Th; trú tại: Thôn C, xã V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

6. Ông Nông Thế M2 (chết năm 1990)

Những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nông Thế M2, gồm:

6.1. Bà Trần Thanh H3; trú tại: Khu 3, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

6.2. Chị Nông Minh C1; trú tại: Khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

6.3. Chị Nông Minh C2; trú tại: Khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nông Thế C3 (chết năm 2010, bà Đàm Thị D chết năm 2018).

Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của bị đơn ông Nông Thế C3:

1. Anh Nông Thế T4, sinh năm 1971, địa chỉ: Khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

2. Anh Nông Thế T5, sinh năm 1974, địa chỉ: Khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

3. Chị Nông Thị Thuý N, sinh năm 1976, địa chỉ: Khu 1, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

4. Chị Nông Thị Thuý N1, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn C4, xã C5, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

5. Chị Nông Thị Trung Th, sinh năm 1980, địa chỉ: Số nhà 37, đường B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Đinh Thị B1, sinh năm 1973, địa chỉ: Khu 2, thị trấn T2, huyện T3, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

2. Chị Đàm Thị H4, sinh năm 1973, địa chỉ: Số 20, đường 10 10, khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

3. Chị Đàm Bích H5, sinh năm 1970, địa chỉ: Thôn Nà Nưa, xã Quốc Khánh, hu ện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

4. Bà Trần Thị H6, ông Ngu ễn Hữu A; cùng địa chỉ: Khu II, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

5. Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn.

Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện T3, tỉnh Lạng Sơn: Ông Bế Văn S - Phó Trưởng ph ng tài ngu ên và môi trường hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn (theo Văn bản ủ qu ền ngà 02 tháng 7 năm 2018); vắng mặt.

- Người kháng cáo: Bà Nông Thị P, bà Nông Hải Y, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, là người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của ngu ên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung Bản án dân sự sơ thẩm của T a án nhân dân hu ện Tràng Định được tóm tắt như sau:

Cụ Trần Thị M và cụ Nông Ích Đ1 sinh được 07 người con chung, gồm ông Nông Thế C3, bà Nông Thị P, ông Nông Thế Đ, bà Nông Bích L1, ông Nông Thế M1, bà Nông Hu ền O và bà Nông Hải Y. Cụ Nông Ích Đ1 chết năm 1976, không để lại di chúc.

Ngày 27 6 1999, cụ Trần Thị M tổ chức cuộc họp gia đình để phân chia tài sản cho các con. Thành viên trong gia đình tham gia cuộc họp có cụ Trần Thị M, ông Nông Thế C3 và ông Nông Thế Đ; người chứng kiến gồm có cụ La Văn Đ2, là em họ của cụ Nông Ích Đ3; ông Nông Trung H6, là cháu họ của cụ Nông Ích Đ3 và cụ Trần Thị Th1, là em của cụ Trần Thị M. Theo biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999, thể hiện nội dung như sau:

Ông Nông Thế C3 được qu ền sử dụng 3.365m2 đất ao vườn và câ ăn quả xung quanh ao tại SM, thuộc khu 2, thị trấn T2 và căn nhà số 192B, diện tích 40m2 mà ông Nông Thế C3 đã xâ ;

Căn nhà giáp đường Quốc lộ chia làm hai phần, một phần giao cho 02 con của ông Nông Thế M2 là chị Nông Minh C6 và chị Nông Minh C7; một phần giao cho ông Nông Thế C3 quản lý làm nhà thờ họ, trong đó công trình mà bà Trần Thanh H3 đã xâ sẽ được thanh toán theo giá thỏa thuận;

Ông Nông Thế Đ được qu ền sử dụng khu đất L2 theo Qu ết định số 200-UB QĐ ngà 30 5 1994 của UBND hu ện T2; phần đất 230m2 c n lại, ông Nông Thế Đ được chia 115m2, chiều dài theo mặt đường là 4,5m.

Bà Nông Thị P và bà Nông Hải Y được chia 115m2, chiều dài theo mặt đường của phần đất mỗi người được chia là 2,25m;

Bà Nông Hu ền O được chia 67m2 đất (số 183), đã xâ dựng nhà;

Bà Nông Bích L1 được chia 92m2 đất (số 184), đã xâ dựng nhà.

Sau khi phân chia tài sản, cụ Trần Thị M, ông Nông Thế C3, bà Trần Thanh H3, bà Nông Hu ền O và bà Nông Bích L1 đã kê khai, đăng ký qu ền sử dụng phần đất được chia tại khu II, thị trấn T2; ông Nông Thế C3 đã thanh toán cho bà Trần Thanh H3 8.000.000 đồng trị giá công trình xâ dựng trên phần đất ông Nông Thế C3 được chia.

Khoảng năm 2004, 2005, giữa cụ Trần Thị M và ông Nông Thế C3 xả ra mâu thuẫn với lý do: Cụ Trần Thị M cho rằng ông Nông Thế C3 là con trai trưởng, nhưng không chăm sóc, phụng dưỡng khi cụ Trần Thị M ốm đau; vợ và các con của ông Nông Thế C3 cũng thiếu trách nhiệm và có thái độ không đúng với cụ. Do đó, tại đơn khởi kiện đề ngà 10 3 2006, cụ Trần Thị M êu cầu T a án hủ một phần biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999 về nội dung chia tài sản cho ông Nông Thế C3.

Năm 2012 cụ Trần Thị M chết, những người kế thừa qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M gồm: Bà Nông Hải Y, bà Nông Thị P, bà Võ Thị Thu H1 êu cầu hủ nội dung biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999, gộp toàn bộ phần đất đã chia cho bà Nông Hu ền O, bà Nông Bích L1, bà Trần Thanh H3 (phần chia cho chị Nông Minh C6 và Nông Minh C7) và ông Nông Thế C3 để chia đều cho 07 anh chị em; diện tích đất c n lại của thửa đất số 30, tờ bản đồ số 10 thị trấn T2 mà cụ Trần Thị M đã được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất, sau khi Nhà nước thu hồi cũng êu cầu chia đều cho 07 người.

Những người kế thừa qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M gồm bà Nông Hu ền O, bà Nông Bích L1 và bà Trần Thanh H3 không nhất trí chia lại toàn bộ đất đai vì cho rằng các bà đã được cụ Trần Thị M cho sử dụng đất từ năm 1983, đến năm 2000 các bà đã được cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất (viết tắt GCNQSD đất). Bà Nông Hu ền O, bà Nông Bích L1 và bà Trần Thanh H3 êu cầu giữ ngu ên phần đất các bà đã được chia và êu cầu chia thêm cho mỗi người 100m2 đất ao, thuộc phần đất ông Nông Thế C3 được chia, phía sau liền kề phần đất các bà đang sử dụng.

Bị đơn là ông Nông Thế C3 trình bà : Năm 1981 cụ Trần Thị M đã tự chia đất cho bà Nông Bích L và bà Nông Hu ền O; năm 1988 cụ Trần Thị M tự chia đất cho ông Nông Thế M2; năm 1989 và năm 1991 cụ Trần Thị M tiếp tục chia thêm đất cho bà Nông Bích L1 và bà Nông Hu ền O. Các lần chia đất nói trên đều do cụ Trần Thị M tự qu ết định, không có sự bàn bạc, thống nhất trong gia đình. Khoảng năm 1990, 1991, ông Nông Thế Đ chu ển gia đình từ miền Nam về quê sinh sống. Năm 1994 ông Nông Thế Đ đã bán 559m2 đất ở SM và 920m2 đất ở LN. Ngà 27 6 1999, cụ Trần Thị M đã họp gia đình, phân chia nhà, đất cho các con; biên bản phân chia tài sản có chứng thực của UBND thị trấn T2, hu ện T3. Trên cơ sở biên bản phân chia tài sản, năm 2000, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O đã được cấp GCNQSD đất. Đối với phần được chia, ông Nông Thế C3 đã thanh toán giá trị 1 2 căn nhà cho bà Trần Thanh H3 với giá thoả thuận là 8.000.000 đồng, trong đó cụ Trần Thị M góp 3.000.000 đồng, sau đó ông Nông Thế C3 đã xâ dựng nhà mới trên phần đất nà ; ngà 04 6 2003, ông Nông Thế C3 đã được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 10 thị trấn T2, diện tích 258,4m2, đâ là phần đất bờ ao, giáp mương thoát nước; ngà 09 7 2002, ông Nông Thế C3 đã đăng ký qu ền sử dụng phần đất ao, là thửa đất số 14, tờ bản đồ số 9 thị trấn T2, diện tích 2.647,9m2, đến thời điểm xả ra tranh chấp, ông Nông Thế C3 chưa được cấp GCNQSD đất;

Sau khi có Bản án phúc thẩm số 28 2007 DS-PT ngày 16/5/2007, ông Nông Thế C3 đã đăng ký qu ền sử dụng thửa đất số 14, tờ bản đồ số 9 thị trấn T2, diện tích 2.647,9m2; ngà 13 10 2008, hộ ông Nông Thế C3 đã được cấp GCNQSD đất thửa đất nêu trên. Cuối năm 2009 ông Nông Thế C3 và bà Đàm Thị D đã đăng ký tha đổi mục đích sử dụng một phần thửa đất số 14, tờ bản đồ số 9 thị trấn T2 và đã tặng cho anh Nông Thế T5, chị Đinh Thị B1 240m2 đất; chu ển nhượng cho chị Đàm Thị H4 và anh Đàm Hải T7 180m2 đất, trong đó có 146m2 thuộc thửa đất số 14; chu ển nhượng cho chị Đàm Bích H5 120m2 đất, trong đó 64m2 thuộc thửa đất số 14. Những người được tặng cho hoặc nhận chu ển nhượng qu ền sử dụng đất nói trên đều đã được cấp GCNQSD đất.

Quá trình giải qu ết vụ án, ông Nông Thế C3 không đồng ý với êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M, nhưng đồng ý nhượng lại cho bà Nông Hu ền O, bà Nông Bích L1 và bà Trần Thanh H3 diện tích đất ao bằng diện tích đất mỗi người đã bị Nhà nước thu hồi, với giá tương đương giá Nhà nước đã bồi thường.

Năm 2010 ông Nông Thế C3 chết, những người kế thừa qu ền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nông Thế C3 gồm bà Đàm Thị D, anh Nông Thế T5, anh Nông Thế T6, chị Nông Thị Thú N4 và chị Nông Thị N5 không nhất trí với êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M. Những người kế thừa qu ền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn cho rằng khi phân chia tài sản, các con của cụ Trần Thị M đều không có ý kiến phản đối; theo biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999, ông Nông Thế C3 đã được cấp GCNQSD đất, đối với diện tích đất được chia. Do đó, đề nghị giữ ngu ên biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999.

Người đại diện theo ủ qu ền của UBND hu ện T3 trình bày: Việc cấp GCNQSD đất cho hộ ông Nông Thế C3, đã được UBND hu ện T3 thực hiện theo đúng trình tự qu định của pháp luật tại thời điểm cấp giấ .

Anh Đàm Hải T7 và chị Đàm Thị H4, chị Đàm Bích H5 trình bày: Việc nhận chu ển nhượng qu ền sử dụng đất của các anh, chị với hộ ông Nông Thế C3 đã được thực hiện đúng thủ tục theo qu định; ngà 08 01 2010 anh Đàm Hải T7 và chị Đàm Thị H4, chị Đàm Bích H5 đã được cấp GCNQSD đất. Do đó, đề nghị T a án xem xét, bảo vệ qu ền, lợi ích hợp pháp của các anh, chị trong quá trình giải qu ết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13 2018 DS-ST ngà 28 tháng 11 năm 2018 của T a án nhân dân hu ện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, qu ết định:

1. Xử: Bác êu cầu khởi kiện của những người thừa kế qu ền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của ngu ên đơn cụ Trần Thị M là các bà Nông Thị P, bà Nông Hải Y, bà Nông Bích Lq, bà Nông Hu ền O về êu cầu huỷ Hợp đồng tặng cho tài sản ngà 27 6 1999 của cụ Trần Thị M, êu cầu hủ giấ chứng nhận qu ền sử đất, đ i chia thừa kế thửa đất tại Khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn có các phía tiếp giáp sau: Phía Bắc giáp đường bê tông kéo dài đến khu nghĩa địa dài 71,64m; phía Nam giáp công trình nhà ở của các bà Trần Thanh H3, Nông Bích L1, Nông Hu ền O dài 33,02m; phía Đông giáp mương nước bê tông dài 87,23m; phía Tâ giáp cơ quan Bảo hiểm xã hội hu ện T3 dài 29,11m. Tổng diện tích là: 2.666,8m2; tổng giá trị thửa đất là 7.548.970.000 đồng (bẩ tỉ năm trăm bốn mươi tám triệu chín trăm bẩ mươi nghìn đồng).

Xác nhận hợp đồng tặng cho tài sản ngà 27 6 1999 của cụ Trần Thị M có hiệu lực pháp luật kể từ ngà 12 12 2002.

2. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: 4.800.000 đồng buộc các bà Nông Thị P, bà Nông Hải Y, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Trần Thanh H3 (chị Nông Minh C6; chị Nông Minh C7) phải chịu 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Xác nhận các đương sự trên đã nộp đủ tiền chi phí thẩm định.

3. Về án phí: Buộc các bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, theo Bản án phúc thẩm số 10 DSPT ngà 24 01 2013 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, bà Nông Hu ền O đã nộp 3.500.800 đồng (ba triệu năm trăm nghìn tám trăm đồng), bà Nông Bích L1 đã nộp 1.000.000 đồng (một triệu đồng), (theo thông báo số 89/TB-CCTHADS ngà 12 4 2016 của Chi cục thi hành án thành phố L). Hoàn trả lại cho bà Nông Hu ền O 3.200.800 (ba triệu hai trăm nghìn tám trăm) đồng, bà Nông Bích L1 700.000 đồng (bả trăm nghìn đồng).

Miễn án phí dân sự cho bà Nông Thị P, theo Bản án phúc thẩm số 10 DSPT ngà 24 01 2013 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, bà Nông Thị P đã nộp 3.700.800 (ba triệu bẩ trăm nghìn tám trăm đồng), (theo thông báo số 89 TB-CCTHADS ngà 12 4 2016 của Chi cục thi hành án thành phố L). Hoàn trả lại cho bà Nông Thị P 3.700.800 (ba triệu bẩ trăm nghìn tám trăm đồng).

Trả lại cho bà Võ Thị Thu H1 3.700.800 đồng (ba triệu bẩ trăm nghìn tám trăm đồng), bà Trần Thanh H2 3.700.800 đồng (ba triệu bẩ trăm nghìn tám trăm đồng), tiền án phí mà bà Võ Thị Thu H1 đã nộp tại các biên lai số 0002676 ngà 05/8/2015, 0002661 ngày 23/4/2015, 0002595 ngày 17/11/2014, 03275 ngày 29/10/2013, bà Trần Thanh H3 đã nộp tại các biên lai số 0002650 ngà 26/3/2015, 0002596 ngày 17/11/2014, 0002612 ngày 16/7/2014, 03309 ngày 10 9 2013 của Chi cục thi hành án dân sự hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn theo Bản án phúc thẩm số 10 DSPT ngà 24 01 2013 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, do bà Võ Thị Thu H1, bà Trần Thanh H3 rút êu cầu khởi kiện.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm c n qu ết định về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và qu ền kháng cáo của các đương sự theo qu định.

Kèm theo Qu ết định số 03 2019 QĐ-SCBSBAST ngà 21 02 2019 của T a án nhân dân hu ện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn về việc sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 13 2018 DSST ngà 28 11 2018.

Ngày 10/12 2018 những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ của ngu ên đơn cụ Trần Thị M, gồm: Bà Nông Thị P, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 13 2018 DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2018 của T a án nhân dân hu ện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Đề nghị T a án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử hủ bản án dân sự sơ thẩm, chu ển hồ sơ vụ án cho T a án cấp sơ thẩm giải qu ết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên t a phúc thẩm những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ của ngu ên đơn cụ Trần Thị M, gồm: Bà Nông Thị P, bà Nông Bích L1, bà Nông Hải Y, vẫn giữ ngu ên nội dung kháng cáo.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên t a:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải qu ết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng qu định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục giải qu ết vụ án. Ngu ên đơn, bị đơn chấp hành nghiêm túc đúng qu định về việc viết bản khai, tham gia phiên h a giải và cung cấp tài liệu, chứng cứ theo qu định. Người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành nghiêm túc theo qu định của pháp luật.

- Về nội dung: Kháng cáo của những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M trong thời hạn luật định nên là hợp lệ. Nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xử hủ bản án sơ thẩm.

- Xác định nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Nông Ích Đ và cụ Trần Thị M tạo lập trong thời kỳ hôn nhân. Năm 1976 cụ Nông Ích Đ1 chết, toàn bộ qu ền sử dụng đất do cụ Trần Thị M quản lý, sử dụng. Ngà 27 6 1999 cụ Trần Thị M lập biên bản phân chia tài sản cho các con. Sau khi được phân chia chia, phần của ai người đó quản lý, sử dụng và đăng ký kê khai qu ền sử dụng đất và đều được cấp GCNQSD đất. Ông Nông Thế C3 được cấp GCNQSD đất đôi với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 10, thị trấn T2, diện tích 258,4m2; đối với diện tích đất ao còn lại, ngày 09/7/2002 ông Nông Thế C3 đăng ký kê khai qu ền sử dụng đất, ngày 12 12 2002 được UBND thị trấn T2, hu ện T3 xác nhận, là thửa số 14, tờ bản đồ số 9, diện tích 2.647,9m2 và sau đó đã được cấp GCNQSD đất. Theo qu định tại khoản 2 Điều 46; điểm a, khoản 1 Điều 129 Luật đất đai năm 2003 và khoản 1, 2 Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005 việc cụ Trần Thị M tặng cho ông Nông Thế C3 có hiệu lực pháp luật. Do đó, để đảm bảo tính ổn định, đảm bảo qu ền lợi của người sử dụng đất nga tình, cần giữ ngu ên hiện trạng sử dụng đất, không có căn cứ để hủ Biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999.

- Thiếu sót cấp sơ thẩm, không đưa người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng ông Nông Thế M2 và ông Nông Thế Đ tham gia tố tụng là không đúng qu định của Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tu nhiên, xét thấ tại cấp phúc thẩm đã khắc phục lấ lời khai vợ, các con của ông Nông Thế M2 và vợ, con ông Nông Thế Đ, những người nà đều không có thắc măc đối với bản án sơ thẩm và từ chối tham gia tố tụng tại phiên t a phúc thẩm nên việc xét xử cấp phúc thẩm đảm bảo qu định của pháp luật

- Về thụ lý êu cầu khởi kiện của đương sự: Theo đơn khởi kiện của cụ Trần Thị M đề ngà 10 3 2006 và quá trình giải qu ết cụ Trần Thị M chỉ êu cầu hủ phần diện tích đất chia cho ông Nông Thế C3 theo biên bản phân chia ngà 27/6/1999. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm giải qu ết hủ Hợp đồng tặng cho tài sản ngà 27 6 1999 và hủ GCNQSD đất đã cấp cho ông Nông Thế C3 theo trích đo sơ họa kèm theo là vượt quá êu cầu khởi kiện ban đầu của cụ Trần Thị M, vi phạm qu định khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tu những êu cầu của cụ Trần Thị M và những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M khởi kiện không có căn cứ để chấp nhận. Nhưng những vi phạm nêu trên cấp sơ thẩm cũng cần rút kinh nghiệm.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử không chấp nhận kháng cáo của những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm về nội dung vượt quá phạm vi khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Ngày 10 12 2018 những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của ngu ên đơn cụ Trần Thị M, gồm: Bà Nông Thị P, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Xét đơn kháng cáo của bà Nông Thị P, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y nộp trong thời hạn luật định nên là hợp lệ.

Xét nguồn gốc đất tranh chấp, quá trình quản lý sử dụng: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện cụ Trần Thị M và cụ Nông Ích Đ1, sinh được 07 người con, gồm ông Nông Thế C3, bà Nông Thị P, ông Nông Thế Đ, bà Nông Bích L, ông Nông Thế M2 (chết năm 1990), bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y. Ngà 27 6 1999, cụ Trần Thị M tổ chức cuộc họp gia đình để phân chia tài sản cho các con. Theo nội dung biên bản phân chia tài sản:

Ông Nông Thế C3 được qu ền sử dụng 3.365m2 đất ao vườn và câ ăn quả xung quanh ao, tại SM, thuộc khu 2, thị trấn T2 và căn nhà số 192B, diện tích 40m2 do ông Nông Thế C3 đã xâ dựng.

Căn nhà giáp đường Quốc lộ chia làm hai phần, một phần giao cho 02 con của ông Nông Thế M2 là chị Nông Minh C6 và chị Nông Minh C7; một phần giao cho ông Nông Thế C3 quản lý làm nhà thờ họ, trong đó công trình của bà Trần Thanh H3 đã xâ dựng sẽ được thanh toán theo thỏa thuận.

Ông Nông Thế Đ được qu ền sử dụng khu đất LN theo Qu ết định số 200-UB QĐ ngà 30 5 1994 của UBND hu ện T3; phần đất 230m2 c n lại, ông Nông Thế Đ được chia 115m2, chiều dài theo mặt đường là 4,5m; bà Nông Thị P và bà Nông Hải Y được chia 115m2, chiều dài theo mặt đường của phần đất mỗi người được chia là 2,25m.

Bà Nông Hu ền O được chia 67m2 đất (số 183), đã xâ dựng nhà.

Bà Nông Bích L1 được chia 92m2 đất (số 184), đã xâ dựng nhà.

Sau khi phân chia tài sản, cụ Trần Thị M, ông Nông Thế C3, bà Trần Thanh H3, bà Nông Hu ền O và bà Nông Bích L1 đã kê khai, đăng ký qu ền sử dụng phần đất được chia tại khu II, thị trấn T2; ông Nông Thế C3 đã thanh toán cho bà Trần Thanh H3 8.000.000 đồng, trị giá công trình xâ dựng trên phần đất ông Nông Thế C3 được chia.

Đến ngà 10 3 2006 cụ Trần Thị M có đơn khởi kiện êu cầu huỷ biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999 đối với diện tích đất đã chia cho ông Nông Thế C3, lý do cụ Trần Thị M cho rằng ông Nông Thế C3 là con trai trưởng, nhưng không chăm sóc, phụng dưỡng khi cụ Trần Thị M ốm đau, vợ và các con của ông Nông Thế C3 cũng thiếu trách nhiệm và có thái độ không đúng với cụ.

Bị đơn ông Nông Thế C3 không có êu cầu phản tố. Những người có qu ền lợi, nghĩa vụ liên quan khác, không có êu cầu độc lập. Như vậ , xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tại thời điểm cụ Trần Thị M khởi kiện là “Yêu cầu hủ Biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999 đối với phần tài sản tặng cho ông Nông Thế C3”. Những phần tài sản của người khác, được cụ Trần Thị M chia theo biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999 không thuộc đối tượng tranh chấp giải qu ết trong vụ án nà .

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02 2006 DSST ngà 19 12 2006 của Toà án nhân dân hu ện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn qu ết định chấp nhận êu cầu của cụ Trần Thị M về việc huỷ hợp đồng tặng cho, do vi phạm về hình thức của hợp đồng dân sự.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 28 2007 DSPT ngà 16 5 2007 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn qu ết định sửa bản án dân sự sơ thẩm bác êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M, công nhận hợp đồng tặng cho tài sản ngà 27/6/1999 có hiệu lực kể từ ngà 12 12 2002.

Tại qu ết định giám đốc thẩm số: 501 2010 DS-GĐT ngà 17/8/2010 của Toà án nhân dân tối cao đã tuyên huỷ cả hai bản án nêu trên và giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân hu ện Tràng Định xét xử sơ thẩm lại.

Tại bản án số 01 2012 DSST ngà 27 9 2012 của Toà án nhân dân hu ện Tràng Định qu ết định bác êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M và xác định biên bản ngà 27 6 1999 có hiệu lực.

Tại bản án phúc thẩm số 10 2012 DSPT ngà 24 01 2013 và thông báo sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm số 33 TB-TA ngà 25 02 2013 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã tu ên giữ ngu ên nội dung bản án sơ thẩm, sửa về phần án phí buộc những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của cụ Trần Thị M phải chịu mỗi người 3.700.800 đồng tiền án phí có giá ngạch.

Tại qu ết định giám đốc thẩm số 24 2016 DS-GĐT ngà 19 5 2016 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội qu ết định huỷ toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm số 10 2012 DSPT ngà 24 01 2013 và thông báo sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm số 33 TB-TA ngà 25 02 2013 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn và bản án dân sự sơ thẩm số 01 2012 DSST ngà 27 9 2012 của Toà án nhân dân hu ện Tràng Định, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân hu ện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm lại.

Tại bản án sơ thẩm số 07 2017/DSST ngày 21/9/2017 của Toà án nhân dân hu ện Tràng Định qu ết định bác êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M và xác định biên bản ngà 27 6 1999 có hiệu lực.

Tại bản án phúc thẩm số 16/2018/DSPT ngày 12/3 2018 của Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn hủ bản án dân sự sơ thẩm của T a án nhân dân hu ện Tràng Định, giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân hu ện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm lại.

Tại bản án dân sự số 13 2018 DS-ST ngà 28 11 2018 của T a án nhân dân hu ện Tràng Định đã xử bác êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M và những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M.

Do không đồng ý với qu ết định của bản án sơ thẩm những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M gồm: Bà Nông Thị P, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y đã kháng cáo, êu cầu cấp phúc thẩm xử hủ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho T a án cấp sơ thẩm xét xử lại.

Xét nội dung kháng cáo của những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của ngu ên đơn cụ Trần Thị M: Bà Nông Thị P, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y, Hội đồng xét xử, xét thấ : Theo nội dung biên bản phân chia tài sản ngày 27/6/1999. Sau khi được phân chia đất, các con của cụ Trần Thị M đều không có khiếu kiện, ha đề nghị cơ quan có thẩm qu ền xem xét, giải qu ết lại, việc cụ Trần Thị M tự ý phân chia tài sản cho các con không được công bằng, kể cả ông Nông Thế Đ có mặt, khi tham gia cuộc họp phân chia tài sản, ông Nông Thế Đ không ký biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999. Nhưng sau khi được phân chia, tất cả mọi người con của cụ Trần Thị M đều thực hiện theo giấ phân chia, quản lý và sử dụng ổn định và đều đã được cấp GCNQSD đất đối với phần đất được chia.

Đối với phần diện tích đất của ông Nông Thế C3 sau khi được chia ông Nông Thế C3 đã đăng ký kê khai qu ền sử dụng đất. Ngày 04/6/2003, ông Nông Thế C3 được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 10 thị trấn T2, diện tích 258,4m2; phần diện tích đất c n lại ngà 09 7 2002 ông Nông Thế C3 đã đăng ký kê khai qu ền sử dụng đất, ngày 13/10/2008, ông Nông Thế C3 được cấp GCNQSD đất thửa đất số 14, tờ bản đồ số 9 thị trấn T2, diện tích 2.647,9m2. Theo qu định tại khoản 2 Điều 46; điểm a, khoản 1 Điều 129 Luật đất đai năm 2003 và khoản 1, 2 Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005, việc cụ Trần Thị M tặng cho ông Nông Thế C3, có hiệu lực pháp luật kể từ ngà được UBND trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn xác nhận (ngà 12 12 2002).

Cuối năm 2009 ông Nông Thế C3 và bà Đàm Thị D đã đăng ký tha đổi mục đích sử dụng một phần thửa đất số 14, tờ bản đồ số 9 thị trấn T2. Tặng cho anh Nông Thế T5, chị Đinh Thị B 240m2; chu ển nhượng cho chị Đàm Thị H4 và anh Đàm Hải T7 180m2. Những người được tặng cho hoặc nhận chu ển nhượng đều đã sử dụng ổn định và được cấp GCNQSD đất.

Như vậ , theo qu định của Luật Hôn nhân và Gia đình, mặc dù tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, được xác định là tài sản chung của vợ chồng cụ Trần Thị M và cụ Nông Ích Đ. Nhưng sau khi cụ Nông Ích Đ1 chết, cụ Trần Thị M phân chia tài sản cho các con, các con của cụ Trần Thị M đều không có ai kiện cáo, khiếu nại gì đối với cơ quan có thẩm qu ền về việc việc cụ Trần Thị M tự ý chia tài sản chung của vợ chồng cho các con. Những người được cụ Trần Thị M chia đất, đều đã quản lý, sử dụng ổn định và được cấp GCNQSD đất. Những người tặng cho, chu ển nhượng lại cho người khác và những người nà đều đã quản lý, sử dụng ổn định và được cấp GCNQSD đất.

Do quá trình khiếu kiện kéo dài, từ tháng 3 năm 2006 đến na , có nhiều tha đổi, biến động về quá trình quản lý, sử dụng đất. Phía bị đơn ông Nông Thế C3 chết năm 2010, bà Đàm Thị D (vợ ông Nông Thế C3) chết năm 2018; phía nguyên đơn cụ Trần Thị M chết năm 2012. Những người thừa kế qu ền nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M là ông Nông Thế Đ chết năm 2010, ông Nông Thế M2 chết năm 1990. Những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nông Thế Đ và ông Nông Thế M2 là vợ, con của ông Nông Thế Đ và ông Nông Thế M2, đều đã từ chối tham gia tố tụng và không kiện tụng nữa. Hiện tại, c n lại những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ của ngu ên đơn cụ Trần Thị M, là các bà Nông Thị P, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y, tiếp tục tham gia tố tụng và những người thừa kế qu ền nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là các con của ông Nông Thế C3 tham gia tố tụng. Do đó, để đảm bảo tính ổn định của người sử dụng đất, bảo vệ được qu ền lợi của những người đang sử dụng đất được chia; được tặng cho đất; nhận chu ển nhượng đất nga tình. Cần giữ ngu ên biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999. Do vậ , xét thấ cấp sơ thẩm xử bác êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M và những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M là bà Nông Thị P, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y là phù hợp với qu định của pháp luật. Tu nhiên, phần lời tu ên cấp sơ thẩm tu ên bác êu cầu hủ Hợp đồng tặng cho tài sản ngà 27 6 1999 của cụ Trần Thị M và êu cầu hủ GCNQSD đất đ i chia thừa kế đất tại khu 2, thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn là không đúng êu cầu khởi kiện ban đầu của cụ Trần Thị M. Vì cụ Trần Thị M chỉ khởi kiện êu cầu hủ một phần Biên bản phân chia tài sản ngà 27 6 1999 đối với diện tích đất đã chia cho ông Nông Thế C3, không êu cầu hủ GCNQSD đất của ông Nông Thế C3. Do vậ , cần phải sửa lại lời tu ên cho phù hợp.

Về chi phí tố tụng: Do êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M; những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng cụ Trần Thị M không được Tòa án chấp nhận, nên cấp sơ thẩm buộc những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M phải chịu chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản số tiền 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng), là đúng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M; những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng cụ Trần Thị M không được chấp nhận, nên cấp sơ thẩm buộc các bà Nông Thị P, Nông Bích L1, Nông Hu ền O, Nông Hải Y phải chịu mỗi người 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm là đúng. Tu nhiên, cấp sơ thẩm lại miễn án phí cho bà Nông Thị P, theo qu định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị qu ết số 326 2016 UBTVQH14, ngày 30 12 2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội qu định về án phí, lệ phí T a án là không đúng theo qu định Điều 14 và 15 của Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14, ngà 30 12 2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội. Vì bà Nông Thị P không có đơn xin miễn giảm tiền án phí, nên cần sửa phần án phí dân sự sơ thẩm đối với bà Nông Thị P. Buộc bà Nông Thị P phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Tại Công văn số 117 CV-CCTHADS ngà 09 4 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L: Bà Nông Thị P đã nộp 3.700.800 đồng, trừ số tiền án phí sơ thẩm phải chịu 300.000 đồng, hoàn trả lại cho bà Nông Thị P số tiền c n lại là 3.400.800 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn tám trăm đồng); bà Nông Bích L1 đã nộp 1.000.000 đồng, trừ số tiền án phí sơ thẩm phải chịu 300.000 đồng, hoàn trả lại cho bà Nông Bích L1 số tiền c n lại 700.000 đồng (bẩ trăm nghìn đồng); bà Nông Hu ền O đã nộp theo Công văn số 117 CV-CCTHADS ngày 09 4 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L 3.500.800 đồng và 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA 2011 03180 ngà 08 5 2013 của Chi cục Thi hành án dân sự hu ện T3, tổng cộng số tiền đã nộp là 3.700.800 đồng, trừ số tiền án phí sơ thẩm phải chịu 300.000 đồng, hoàn trả lại cho bà Nông Hu ền O số tiền c n lại là 3.400.800 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn tám trăm đồng);

Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên ngu ên đơn và những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của ngu ên đơn là bà Nông Thị P, bà Nông Hải Y, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho bà Nông Thị P số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số AA 2015 0000396 ngà 13 12 2018; trả lại bà Nông Bích L1 số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số AA 2015 0000393 ngà 13 12 2018; trả lại bà Nông Hu ền O số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số AA 2015 0000395 ngà 13 12 2018; trả lại bà Nông Hải Y số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số AA 2015 0000394 ngà 13 12 2018 của Chi cục Thi hành án hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn.

Các phần qu ết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngà tu ên án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận êu cầu kháng cáo của những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Trần Thị M, gồm các bà: Nông Thị P, Nông Hải Y, Nông Bích L1, Nông Hu ền O; sửa về lời tu ên và án phí sơ thẩm của Bản án dân sự sơ thẩm số 13 2018 DS-ST ngà 28 11 2018 của T a án nhân dân hu ện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn; cụ thể:

Căn cứ các Điều 117, 132, 457, 502, 623 và 688 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 122, 136, 247, 645 và 467 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 2 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 129 của Luật Đất đai năm 2003; điểm a khoản 1 Điều 99; khoản 1, 2 Điều 101 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điêu 148; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều14;15; khoản 1 Điều 26 Nghị qu ết số 326 2016 UBTVQH14, ngà 30 12 2016 của Ủ ban thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Quyền sử dụng đất: Bác êu cầu khởi kiện của cụ Trần Thị M; những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của cụ Trần Thị M gồm có các bà Nông Thị P, bà Nông Hải Y, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O về êu cầu huỷ một phần Hợp đồng tặng cho tài sản ngà 27/6/1999 (Biên bản phân chia tài sản ngày 27/6/1999) đối với phần diện tích đất đã chia cho ông Nông Thế C3.

2. Công nhận qu ền quản lý, sử dụng diện tích đất và qu ền sở hữu các tài sản trên đất của ông Nông Thế C3; những người thừa kế qu ền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nông Thế C3, gồm anh Nông Thế T5; Nông Thế T6; chị Nông Thị Thú N4; Nông Thị Thú N5; Nông Thị Trung Th, được chia theo Hợp đồng tặng cho tài sản ngà 27 6 1999 (Biên bản phân chia tài sản ngày 27/6/1999) là hợp pháp.

3. Xác nhận Hợp đồng tặng cho tài sản ngà 27 6 1999 (Biên bản phân chia tài sản ngày 27/6/1999) của cụ Trần Thị M đối với phần diện tích đất đã chia cho ông Nông Thế C3 có hiệu lực pháp luật kể từ ngà được UBND thị trấn T2, hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn xác nhận (ngà 12 12 2002).

4. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nông Thị P, bà Nông Hải Y, bà Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Trần Thanh H3 (chị Nông Minh C6; chị Nông Minh C7) phải chịu 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Xác nhận các đương sự nêu trên đã nộp đủ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc các bà Nông Thị P, Nông Bích L1, bà Nông Hu ền O, bà Nông Hải Y, mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

Xác nhận bà Nông Thị P đã nộp 3.700.800 đồng, trừ số tiền án phí sơ thẩm phải chịu 300.000 đồng, hoàn trả lại cho bà Nông Thị P số tiền c n lại là 3.400.800 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn tám trăm đồng); bà Nông Bích L1 đã nộp 1.000.000 đồng, trừ số tiền án phí sơ thẩm phải chịu 300.000 đồng, hoàn trả lại cho bà Nông Bích L1 số tiền c n lại 700.000 đồng (bẩ trăm nghìn đồng); bà Nông Hu ền O đã nộp là 3.700.800 đồng, trừ số tiền án phí sơ thẩm phải chịu 300.000 đồng, hoàn trả lại cho bà Nông Thị O số tiền c n lại là 3.400.800 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn tám trăm đồng);

6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các bà Nông Thị P, Nông Bích L1, Nông Hu ền O, Nông Hải Y không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm thẩm. Hoàn trả lại bà Nông Thị P số tiền đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số AA/2015/0000396 ngày 13/12/2018; hoàn trả lại bà Nông Bích L1 số tiền đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số AA 2015 0000393 ngà 13 12 2018; hoàn trả lại bà Nông Hu ền O số tiền đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số AA/2015/0000395 ngày 13/12/2018; hoàn trả lại bà Nông Hải Y số tiền đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số AA 2015 0000394 ngà 13 12 2018 của Chi cục Thi hành án hu ện T3, tỉnh Lạng Sơn.

7. Các phần qu ết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngà tu ên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, qu ết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có qu ền thỏa thuận thi hành án, qu ền êu cầu thi hành án, tự ngu ện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngà tu ên án.

Cỡ chữ