- Tranh chấp gì? án hình sự — "La Văn Định - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI | |
TOÀ ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI Bản án số: 31/2018/HSST Ngày: 13/8/2018 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Hương. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Dong. Bà Đinh Thị Hạnh. Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát. Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Trang - Kiểm sát viên. Ngày 13/82018 tại Tòa án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2018/TLST - HS ngày 18/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/QĐXXST - HS ngày 01 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: La Văn Định (Tên gọi khác không) - Sinh ngày 01/01/1966 Tại; Huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Nơi cư trú: Tổ 3, thị trấn Bát Xát, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 4/10; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: La Văn Dẩu (đã chết) Con bà: Trần Thị Lam - Sinh năm 1940 Trú tại: Tổ 3, thị trấn Bát Xát, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Bị cáo chưa có vợ con Tiền án, tiền sự: Không Nhân thân: Tại bản án hình sự số 35/HSST ngày 31/3/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xử phạt 16 năm tù về tội “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma tuý” phạt tiền sung công quỹ nhà nước 20.000.000 đồng, phạt quản chế 02 năm sau khi mãn hạn tù và 50.000 đồng án phí sơ thẩm. Tại bản án số 1508 ngày 21/8/1998 của Toà án nhân dân Tối Cao giữ nguyên bản án sơ thẩm xử phạt 16 năm tù và 50.000 đồng án phí phúc thẩm. Theo bản án La Văn Định phải nộp phạt sung công quỹ nhà nước 20.000.000 đồng, 50.000đ án phí HSST và 50.000đ án phí HSPT do khó khăn nên đã được Toà án huyện Bát Xát miễn một phần tiền phạt là 10.000.000đ, đến nay đã nộp được 10.100.000đ La Văn Định đã thi hành xong khoản tiền trên, năm 2010 chấp hành xong hình phạt tù về địa phương sinh sống. Đến nay đã được xóa án tích. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/6/2018 - Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bát Xát - Có mặt Người tham gia tố tụng khác: Bị hại: Chị Trần Thị Hiền - Sinh năm 1991 Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) Trú tại: Tổ 2, thị trấn Bát Xát, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 01/6/2018, La Văn Định đi từ nhà đến lán trồng cây của gia đình ở tổ 2, thị trấn Bát Xát để trồng cây, đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày La Văn Định đi qua cổng nhà chị Trần Thị Hiền thấy cửa phòng khách mở không có người và trên nền nhà sát cửa phòng khách có 01 điện thoại di động, Định nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền mua ma tuý để sử dụng. Ngay lúc đó quan sát thấy không có ai Định đi vào phòng khách lấy chiếc điện thoại đó rồi đi ra ngoài và đến cửa hàng điện thoại của anh Nguyễn Mạnh Thể ở tổ 5, thị trấn Bát Xát để bán. Sau khi thoả thuận La Văn Định nhất trí bán chiếc điện thoại trên cho anh Thể với giá 400.000đ. Trong khi chờ anh Thể lấy tiền trả La Văn Định bị công an thị trấn Bát Xát phát hiện đưa về trụ sở Công an để làm việc, tại đây La Văn Định đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình và tự giác giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, loại 16 Gb, màu vàng. Tại biên bản xác định trị giá tài sản bị xâm hại số: 10/HĐ-GĐ ngày 04/6/2018 của hội đồng định giá tài sản huyện Bát Xát đã xác định: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, loại 16 Gb, màu vàng (gold), số Imei: 358365067313275, đã qua sử dụng có trị giá là 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn) Tại phiên toà bị cáo La Văn Định khai nhận ngày 01/6/2018 tại tổ 2, thị trấn Bát Xát La Văn Định đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 6, loại 16 Gb, màu vàng có trị giá là 2.500.000đ. Bản cáo trạng số 30/CT - VKS ngày 17/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát đã truy tố bị cáo La Văn Định về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo La Văn Định đã khai nhận tội, bị cáo đã trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, loại 16 Gb, màu vàng có trị giá là 2.500.000đ. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo La Văn Định phạm tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo với mức án từ 06 đến 08 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm hình sự: Bị hại chị Trần Thị Hiền đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Bát Xát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo La Văn Định: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khoảng 13 giờ ngày 01/6/2018 tại nhà chị Trần Thị Hiền tổ 2, thị trấn Bát Xát bị cáo đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại Iphone 6, loại 16 Gb, màu vàng có giá trị là 2.500.000đ. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, giá trị tài sản trộm cắp trị giá 2.500.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát đã truy tố bị cáo theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, bị cáo có nhân thân xấu đã 01 lần bị xét xử về hình sự, mặc dù đã được xoá án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung. [3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy đinh tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có [5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy đinh “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm 5.000.000 đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa bị cáo là người lao động tự do, không có việc làm ổn định, lại nghiện ma túy nên không có thu nhập gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị Hiền đã nhận lại 01 chiếc Iphone 6, loại 16 Gb màu vàng. Chị Hiền không yêu La Văn Định phải bồi thường cho chị nên Hội đồng xét xử không xem xét. [7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [8] Đối với anh Nguyễn Mạnh Thể, trú tại tổ 5, thị trấn Bát Xát, ngày 01/6/2018 La Văn Định đã đến cửa hàng điện thoại của anh Thể để bán 01 chiếc điện thoại Iphone 6, loại 16 Gb, màu vàng. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã làm rõ anh Thể không biết nguồn gốc chiếc điện thoại là do La Văn Định trộm cắp mà có được, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Tuyên bố bị cáo La Văn Định phạm tội “Trộm cắp tài sản” Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 điểm h, s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo La Văn Định 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/6/2018. 2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo La Văn Định phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm. 3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Án xử công khai sơ thẩm.
Nơi nhận: - TAND tỉnh - VKSND tỉnh, huyện 2 - Công an huyện 2 - Sở tư pháp - Bị cáo 1 - Bị hại 1 - T.H.A 3; Lưu T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân - TAND tỉnh - VKSND huyện 2 - Công an huyện 3 - Sở tư pháp - Bị cáo 2 - TGPL - T.H.A 3 - Lưu Các hội thẩm nhân dân | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh Hương Trần Văn Đằng Phạm Thị Hoà Phạm Thị Thanh Hương Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trung Dong Đinh Thị Hạnh Phạm Thị Thanh Hương Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh Hương Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trung Dong Trần Thị Yến Phạm Thị Thanh Hương |