- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2018/HS-PT Ngày: 09-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hu nh Đức.
Các Thẩm phán:
Ông Trương Văn Lộc;
Ông Trần Văn Luông.
- Th ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy H ng – Thư T a án nh n d n tỉnh Bình Dương.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nhân dân t nh Bình D ng tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Lệ Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2018, tại tr s T a án nh n d n tỉnh Bình Dương, t phúc th m công hai v án hình sự phúc th m th l số 33/2018/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Văn M do c háng cáo c a bị cáo đối với Bản án hình sự sơ th m số 08/2018/HS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2018 c a T a án nh n d n thị ã T, tỉnh Bình Dương.
Họ và tên bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn M, sinh năm 1991 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; chỗ : D16 hu d n cư V hu phố 4, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; hông rõ tên cha; con bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1962; c vợ tên Hồ Thị K, sinh năm 1991 và 01 người con sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; nh n th n: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 10/01/2017 đến ngày 19/01/2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn; bị bắt tạm giam ngày 28/12/2017 cho đến nay, c mặt.
Trong v án c n c các bị cáo Lê Minh T, Lê Minh H, Lê Út N, Bùi Văn T1, Hà Văn Tiền E; các nguyên đơn d n sự Công ty Tài chính trách nhiệm hữu hạn T, Công ty H; các những người c quyền lợi, ngh a v liên quan Công ty P, ông Nguyễn Xu n T, hộ inh doanh P, Doanh nghiệp tư nh n V, Hộ inh doanh Q, Công ty Trách nhiệm hữu hạn N; những người này hông háng cáo và Viện Kiểm sát hông háng nghị nên T a án hông triệu tập.
NỘI D NG V ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên t a, nội dung v án được t m tắt như sau:
Lê Minh T là nh n viên tư vấn tín d ng c a Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn T (viết tắt là Công ty tài chính T). Với m c đích chiếm đoạt tài sản c a người hác, Lê Minh T đã chỉnh s a giấy chứng minh nh n d n c a hách hàng để vay tiền c a Công ty tài chính T; ngoài ra, Lê Minh T cùng với Lê Minh H, Lê Út N, Nguyễn Văn M, Bùi Văn T1, Hà Văn Tiền E đã s d ng giấy chứng minh nh n d n, giấy ph p lái e c a người hác mua lại từ các tiệm cầm đồ, sau đ mang về chỉnh s a b ng cách gắn hình ảnh c a mình lên các giấy tờ trên, rồi mang đến các c a hàng mua bán điện thoại, e mô tô đề nghị mua điện thoại, e mô tô thông qua Hợp đồng tín d ng tiêu dùng trả g p nh m chiếm đoạt tiền c a các Công ty tài chính. C thể như sau:
Vụ thứ nhất: Người thực hiện Lê Minh T (s d ng tên Đặng Đức H) chiếm đoạt số tiền 31.650.000 đồng c a Công ty tài chính T.
Ngày 03/6/2015, do c nhu cầu vay tiêu dùng cá nh n, ông Đặng Đức H liên lạc với Lê Minh T là nh n viên tư vấn tín d ng c a Công ty tài chính T để làm hồ sơ vay vốn tín chấp; hồ sơ vay T yêu cầu H cung cấp gồm: Chứng minh nh n d n, sổ hộ h u, hợp đồng lao động và bảng lương 03 tháng gần nhất (tất cả là bản photocopy đã được T
ác nhận đối chiếu với bản gốc). Sau đ , H đã làm đơn đề nghị vay vốn iêm giấy đăng
iêm Hợp đồng m và s d ng tài hoản với Công ty tài chính T, do T tư vấn và lập. Tuy nhiên, do hông c n nhu cầu vay vốn nên H đã liên lạc với T để h y hồ sơ vay vốn nêu trên. Ngày 11/5/2015, T đã ch động liên hệ với H để cung cấp thông tin trên chứng minh nh n d n c a H để làm th t c h y hồ sơ vay vốn.
Do T c quen biết với đối tượng tên S ( hông ác định được nh n th n, lai lịch), T và S đã làm giả giấy chứng minh nh n d n c a H c dán hình T và vay vốn c a Công ty tài chính T với số tiền 31.650.000 đồng (ba mươi mốt triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Sau hi nhận được số tiền giải ng n nêu trên, T đưa số tiền này cho S, S chia cho T 7.000.000 đồng, số tiền c n lại S giữ.
Vụ thứ hai: Người thực hiện Lê Minh T (s d ng tên Nguyễn Văn L) chiếm đoạt số tiền 21.000.000 đồng c a Công ty tài chính T.
Tháng 7/2016, do c nhu cầu vay tiền c a Công ty tài chính T, Nguyễn Văn L đã liên hệ với T để được tư vấn và L đã cung cấp cho T các giấy tờ gồm: Sổ hộ h u, giấy chứng minh nh n d n để T th m định hồ sơ vay tiền. Sau đ , T đã đưa hồ sơ c a Nguyễn Văn L cho đối tượng tên S để th m định, nhưng S đã trả lời hồ sơ c a L hông đ điều iện được vay vốn; đồng thời T cũng thông báo cho L biết hồ sơ c a L hông đạt yêu cầu. Sau đ S bàn bạc với T lấy giấy tờ c a Nguyễn Văn L để làm giả giấy chứng minh nh n d n tên Nguyễn Văn L c dán hình T để mua hàng trả g p e gắn máy và S hứa cho T tiền.
Ngày 29/7/2016, T đến Công ty Trách nhiệm hữu hạn N, địa chỉ số 1/82 hu phố H, phường T, thị ã T, tỉnh Bình Dương s d ng sổ hộ h u và giấy chứng minh nh n d n mang tên Nguyễn Văn L (c dán ảnh c a T) để
ết hợp đồng tín d ng với Công ty tài chính T vay số tiền 21.000.000 đồng mua hàng trả g p 01 chiếc e máy nhãn hiệu Yamaha Sirius c a Công ty N, Công ty tài chính T chấp nhận cho Nguyễn Văn L vay số tiền này. Sau hi Công ty tài chính T giải ng n số tiền vay và chuyển vào tài hoản c a Công ty N, Công ty N đã bàn giao 01 chiếc e máy nhãn hiệu Yamaha Sirius nêu trên cho Lê Minh T, T đã đưa lại chiếc e này cho S và được S cho 500.000 đồng.
Vụ thứ ba: Người thực hiện Lê Minh T (s d ng tên Nguyễn Minh H), chiếm đoạt 7.339.500 đồng c a Công ty tài chính T.
Ngày 20/9/2016, Lê Minh T s d ng giấy chứng minh nh n d n, giấy phép lái xe tên Nguyễn Minh H (c dán hình c a T) đến Công ty tài chính đề nghị cho vay số tiền là 7.339.500 đồng (gồm: 6.990.000 đồng tiền mua máy + 349.500 đồng tiền bảo hiểm) để mua trả g p 01 (một) Ipad Mini tại c a hàng Thế giới di động L, số 171 đường DT745 hu phố L, phường L, thị ã T, tỉnh Bình Dương.
Vụ thứ tư: Người thực hiện Lê Minh H (s d ng tên Nguyễn Hữu C), chiếm đoạt 7.339.500 đồng c a Công ty tài chính T.
Ngày 17/11/2016, Lê Minh H s d ng giấy chứng minh nh n d n, giấy phép lái xe tên Nguyễn Hữu C (c dán hình c a H) đến Công ty tài chính đề nghị cho vay số tiền là 7.339.500 đồng (gồm: 6.990.000 đồng tiền mua máy + 349.500 đồng tiền bảo hiểm) để mua trả g p 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S 16GB tại c a hàng Điện máy Xanh L, số 311 đường N, hu phố N, phường L, thị ã T; sau đ H bán lại chiếc điện thoại nêu trên cho c a hàng P lấy số tiền 4.000.000 đồng.
Vụ thứ năm: Người thực hiện Lê Minh H và đối tượng tên L chưa ác định được nh n th n lai lịch (L s d ng tên Nguyễn S T), chiếm đoạt 7.339.500 đồng c a Công ty tài chính T.
Ngày 01/12/2016, Lê Minh H và đối tượng L s d ng giấy chứng minh nhân dân, giấy ph p lái e tên Nguyễn Sỹ T (c dán hình đối tượng L) đến Công ty tài chính đề nghị cho vay số tiền là 7.339.500 đồng (gồm: 6.990.000 đồng tiền mua máy + 349.500 đồng tiền bảo hiểm) để mua trả g p 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S 16GB tại c a hàng Điện máy Xanh L, số 311 đường N, hu phố N, phường L, thị ã T; sao đ H bán lại chiếc điện thoại nêu trên cho c a hàng P lấy số tiền 4.000.000 đồng, rồi đưa cho L 500.000 đồng.
Vụ thứ sáu: Người thực hiện Lê Minh T, Hà Văn Tiền E (s d ng tên Trần Văn Đ) chiếm đoạt 7.339.500 đồng c a Công ty tài chính T.
Ngày 11/12/2016, Lê Minh T, Hà Văn Tiền E s d ng giấy chứng minh nh n d n, giấy ph p lái e tên Trần Văn Đ (có dán hình Tiền E) đến Công ty tài chính đề nghị cho vay số tiền là 7.339.500 đồng (gồm: 6.990.000 đồng tiền mua máy + 349.500 đồng tiền bảo hiểm) để mua trả g p 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S 16GB tại c a hàng Thế giới di động, số 32/1 hu phố B, phường T, thị ã T; sau đ , T bán lại chiếc điện thoại nêu trên cho c a hàng P giá 4.000.000 đồng, sau đ chia cho Hà Văn Tiền E 1.000.000 đồng.
Vụ thứ bảy: Người thực hiện Lê Minh H, Nguyễn Văn M (s d ng tên Thạch T) chiếm đoạt 7.339.500 đồng c a Công ty tài chính T.
Ngày 15/12/2016, Lê Minh H và Nguyễn Văn M s d ng giấy chứng minh nh n d n, giấy ph p lái e tên Thạch T (c dán hình c a M) đến Công ty tài chính đề nghị cho vay số tiền là 7.339.500 đồng (gồm: 6.990.000 đồng tiền mua máy + 349.500 đồng tiền bảo hiểm) để mua trả g p 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S 16GB tại c a hàng Thế giới di động L, số 171 đường DT 745 hu phố L, phường L, thị ã T; sau đ , H bán lại chiếc điện thoại nêu trên cho c a hàng P lấy số tiền 4.000.000 đồng, rồi chia cho M 500.000 đồng.
Vụ thứ tám: Người thực hiện Lê Minh H, Nguyễn Văn M (s d ng tên Trần Hu nh Phú Q) chiếm đoạt 7.339.500 đồng c a Công ty tài chính T.
Ngày 17/12/2016, Lê Minh H và Nguyễn Văn M s d ng giấy chứng minh nh n d n, giấy ph p lái e tên Trần Hu nh Phú Q (c dán hình c a M) đến Công ty tài chính đề nghị cho vay số tiền là 7.339.500 đồng (gồm: 6.990.000 đồng tiền mua máy + 349.500 đồng tiền bảo hiểm) để mua trả góp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S 16GB tại c a hàng Điện máy Xanh L, số 311 đường N, hu phố N, phường L, thị ã T; sau đ , H bán lại chiếc điện thoại nêu trên cho c a hàng P lấy số tiền 4.000.000 đồng, rồi chia cho M 500.000 đồng.
Vụ thứ chín: Người thực hiện Lê Út N, Hà Văn Tiền E (s d ng tên Trần Minh N) chiếm đoạt 7.339.500 đồng c a Công ty tài chính T.
Ngày 20/12/2016 Lê Út N, Hà Văn Tiền E s d ng giấy chứng minh nh n d n, giấy ph p lái e tên Trần Minh N (c dán hình c a Tiền E) đến Công ty tài chính đề nghị cho vay số tiền là 7.339.500 đồng (gồm: 6.990.000 đồng tiền mua máy + 349.500 đồng tiền bảo hiểm) để mua trả g p 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S 16GB tại c a hàng Thế giới di động ngã tư Đ, số 2/123 hu phố H, phường T, thị ã T; sau đ , Lê Út N bán lại chiếc điện thoại nêu trên cho c a hàng P lấy số tiền 4.500.000 đồng, rồi chia cho Tiền E 500.000 đồng.
Vụ thứ mười: Người thực hiện Lê Minh H, Lê Út N, Bùi Văn T1 (s d ng tên Lê Viễn D) chiếm đoạt 7.339.500 đồng c a Công ty tài chính T.
Ngày 23/12/2016 Lê Minh H, Lê Út N, Bùi Văn T1 s d ng giấy chứng minh nhân dân, giấy ph p lái e tên Lê Viễn D (c dán hình c a T1) đến Công ty tài chính đề nghị cho vay số tiền là 7.339.500 đồng (gồm: 6.990.000 đồng tiền mua máy + 349.500 đồng tiền bảo hiểm) để mua trả g p 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S 16GB tại c a hàng Điện máy Xanh A, số 51C/1 hu phố 1A, phường A, thị ã T; sau đ , Lê Út N bán lại chiếc điện thoại nêu trên cho c a hàng P lấy số tiền 4.500.000 đồng.
Vụ thứ mười một: Người thực hiện Lê Minh T, Hà Văn Tiền E (s d ng tên Tạ Thanh H) chiếm đoạt 8.664.000 đồng c a Công ty H.
Ngày 14/12/2016, Lê Minh T, Hà Văn Tiền E s d ng giấy chứng minh nhân dân, giấy ph p lái e tên Tạ Thanh H (có dán hình Tiền E) đến Công ty H đề nghị cho vay số tiền 8.664.000 đồng để mua trả g p 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A9 Pro tại c a hàng Thế giới di động ngã tư H, số 1/25A đường T, hu phố H, phường T, thị ã T; sau đ , T cho Tiền E 700.000 đồng, c n điện thoại T bán cho người hác.
Như vậy:
Bị cáo Nguyễn Văn M thực hiện 02 v với tổng số tiền chiếm đoạt c a Công ty tài chính T là 14.679.000 đồng;
Bị cáo Lê Minh T thực hiện 05 v (3 v thực hiện một mình, 2 v thực hiện cùng với bị cáo E) với tổng số tiền chiếm đoạt c a Công ty tài chính T và Công ty H là 75.993.000 đồng;
Bị cáo Lê Minh H thực hiện 05 v (2 v thực hiện một mình, 2 v thực hiện với bị cáo M, 1 v thực hiện cùng với các bị cáo N và T1) với tổng số tiền chiếm đoạt c a Công ty tài chính T là 36.697.500 đồng;
Bị cáo Hà Văn Tiền E thực hiện 03 v (1 v thực hiện với bị cáo N, 2 v thực hiện với bị cáo T) với tổng số tiền chiếm đoạt c a Công ty tài chính T và Công ty Tài chính H là 23.343.000 đồng;
Bị cáo Lê Út N thực hiện 02 v (1 v thực hiện với bị cáo E, 1 v thực hiện với các bị cáo H và T1) với tổng số tiền chiếm đoạt c a Công ty tài chính T là 14.679.000 đồng;
Bị cáo Bùi Văn T1 đã thực hiện 01 v cùng với các bị cáo N và H với số tiền chiếm đoạt c a Công ty tài chính T là 7.339.500 đồng.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành hám t h n cấp nơi c a Lê Út N, Lê Minh H, Lê Minh T trên địa bàn thị ã T, thu giữ một số giấy tờ liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội c a các đối tượng này: Thu tại nơi c a Lê Út N gồm 01 mặt sau giấy chứng minh nhân dân do Công an tỉnh Cà Mau cấp và 01 mặt sau Giấy ph p lái e hạng A1; thu tại nơi c a Lê Minh H gồm 07 mặt sau giấy chứng minh nh n d n; thu tại nơi c a Lê Minh T 01 giấy chứng minh nh n d n tên Trần Huy H và 13 mặt sau giấy chứng minh nh n d n. Cơ quan điều tra c n thu giữ một số giấy tờ tại các tiệm cầm đồ, c thể:
Giấy chứng minh nh n d n và giấy ph p lái e tên Trương Văn B; giấy chứng minh nh n d n và giấy ph p lái e tên Tạ Đức M; giấy chứng minh nh n d n và giấy ph p lái e tên Thạch T do Lê Minh H mang đi cầm cố tại tiệm cầm đồ T tại hu phố 4, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Xu n T làm ch , 01 bộ giấy chứng minh nh n d n và giấy ph p lái e cầm được 500.000 đồng.
Giấy chứng minh nh n d n và giấy ph p lái e tên Trần Văn Đ do Hà Văn Tiền E mang đi cầm cố tại tiệm cầm đồ V tại hu phố B, phường T, thị ã T do ông Vũ Ngọc Đ làm ch .
Giấy chứng minh nh n d n và giấy ph p lái e tên Trần Minh N do Hà Văn Tiền E mang đi cầm cố tại tiệm cầm đồ Q tại hu phố 4, phường A, thị ã T, tỉnh Bình Dương do bà Nguyễn Thị Hoài A làm ch .
Giấy chứng minh nh n d n và giấy ph p lái e tên Phan Văn X do Lê Út N mang đi cầm cố tại tiệm cầm đồ P tại hu d n cư V, hu phố H, phường T, thị ã T, tỉnh Bình Dương do ông Nguyễn Đức T làm ch .
Cơ quan điều tra đã Quyết định trưng cầu giám định đến Ph ng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương giám định các tài liệu nêu trên, gồm: 07 (bảy) giấy chứng minh nh n d n và 06 (sáu) giấy ph p lái e. Bản Kết luận giám định số 55/GĐ-PC54 ngày 24/3/2017, ết luận như sau: Trên các tài liệu cần giám định ( í hiệu từ A2 đến A5, A7 và từ A1 đến A13) so với hình dấu tr n c cùng nội dung trên các tài liệu mẫu ( í hiệu từ M1 đến M8) là do cùng một con dấu đ ng ra; các tài liệu cần giám định ( í hiệu từ A1 đến A12) đã bị thay ảnh.
Tại Bản án hình sự s th m s 08/2018/H - T ngày 19/01/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo hoản 1 Điều 139; điểm p hoản 1 và hoản 2 Điều 46; điểm g hoản 1 Điều 48; Điều 41; Điều 42 và Điều 53 c a Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi bổ sung năm 2009; phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2017 được hấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2017 đến ngày 19/01/2017.
Ngoài ra, T a án cấp sơ th m c n phạt các bị cáo Lê Minh T 02 (hai) năm tù, Lê Minh H 01 (một) năm tù, Lê Út N 01 (một) năm tù, Hà Văn Tiền E 01 (một) năm tù, Bùi Văn T1 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hoản 1 Điều 139 c a Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi bổ sung năm 2009; tuyên về trách nhiệm d n sự, án phí và quyền háng cáo theo quy định c a pháp luật.
Ngày 24/01/2018, bị cáo Nguyễn Văn M háng cáo in giảm nhẹ hình phạt (đơn háng cáo trong hạn luật định).
Tại phiên t a:
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên t a phúc th m phát biểu quan điểm giải quyết đối với v án: Xác định tội danh, điều luật T a án cấp sơ th m t và áp d ng đối với bị cáo M là c căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên t a, bị cáo M háng cáo in giảm nhẹ hình phạt và cung cấp các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình, bị cáo c con c n nh ; ông ngoại bị cáo là người c công với cách mạng (được tặng Hu n chương háng chiến hạng Ba). Do đ , đề nghị Hội đồng t chấp nhận háng cáo c a bị cáo M, s a bản án sơ th m theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M từ 02 tháng đến 03 tháng tù.
Đối với các phần hác c a bản án sơ th m, mặc dù hông bị háng cáo, háng nghị; tuy nhiên T a án cấp sơ th m nhận định trong các lần bị cáo Lê Minh T thực hiện hành vi phạm tội chưa c lần nào đ định lượng để t theo hoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 nên t bị cáo T theo hoản 1 Điều 139 c a Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009; nhận định này c a T a án cấp sơ th m là hông phù hợp, b i lẽ bị cáo T đã thực hiện 5 lần chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền 75.993.000 đồng là đã đ định lượng để t theo điểm e hoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009. Do đ , đề nghị Hội đồng t
iến nghị Chánh án T a án nh n d n cấp cao em t háng nghị bản án theo th t c giám đốc th m để h y một phần bản án sơ th m t đối với bị cáo T.
Bị cáo Nguyễn Văn M đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình, bị cáo c con c n nh , bị cáo phải chăm s c mẹ vì mẹ bị cáo thường uyên đau ốm; bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định c a địa phương; ông ngoại bị cáo là người c công với cách mạng (được tặng Hu n chương háng chiến hạng Ba); bị cáo chưa c tiền án, tiền sự. Tại phiên t a và lời n i sau cùng c a bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung háng cáo in giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên t a, Hội đồng t nhận định như sau:
[1] Bị cáo Nguyễn Văn M cùng với bị cáo Lê Minh H s d ng th đoạn gian dối là dùng giấy chứng minh nh n d n, giấy ph p lái e mang tên Thạch T và Trần Hu nh Phú Q, sau đ dán hình c a M lên các giấy tờ trên và đến các c a hàng mua bán điện thoại tại địa bàn thị ã T, tỉnh Bình Dương làm hồ sơ vay tiền c a Công ty tài chính T để mua hàng trả g p và chiếm đoạt tài sản c a Công ty tài chính T với tổng số tiền 14.679.000 đồng theo các hợp đồng vay tín d ng mang tên Thạch T và Trần Hu nh Phú Q. Theo quy định tại hoản 1 Điều 139 c a Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 thì: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Do đ , T a án cấp sơ th m t bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo hoản 1 Điều 139 c a Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Hành vi gian dối c a bị cáo M để chiếm đoạt tài sản c a Công ty tài chính T là nguy hiểm cho ã hội, đã m phạm đến tài sản c a người hác một cách trái pháp luật, g y mất an ninh trật tự ã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi c a mình là trái pháp luật nhưng cố tình thực hiện, bất chấp pháp luật.
[3] Tại phiên t a, bị cáo M giữ nguyên yêu cầu háng cáo in giảm nhẹ hình phạt và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình, bị cáo c con c n nh , bị cáo phải chăm s c mẹ vì mẹ bị cáo thường uyên đau ốm; bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định c a địa phương; ông ngoại bị cáo là người c công với cách mạng (được tặng Hu n chương háng chiến hạng Ba); bị cáo chưa c tiền án, tiền sự. X t thấy, bị cáo c nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo c nh n th n tốt; chưa c tiền án, tiền sự. Ngoài ra, mặc dù bị cáo M thực hiện hành vi phạm tội cùng với bị cáo H với tổng số tiền chiếm đoạt là 14.679.000 đồng nhưng bị cáo M chỉ thu lợi bất chính số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo M là đồng phạm giản đơn nên Hội đồng t chấp nhận háng cáo c a bị cáo M và áp d ng Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 s a Bản án hình sự sơ th m số 08/2018/HS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2018 c a Tòa án nhân dân thị ã T.
[4] Viện Kiểm sát đề nghị chấp nhận háng cáo c a bị cáo M, s a một phần bản án sơ th m và giảm cho bị cáo M từ 02 đến 03 tháng tù là c căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Mặc dù các phần hác c a bản án sơ th m hông bị háng cáo, háng nghị nhưng T a án cấp sơ th m t bị cáo Lê Minh T theo hoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 là chưa phù hợp vì bị cáo T đã thực hiện 5 v với tổng số tiền chiếm đoạt 75.993.000 đồng là đã đ định lượng để t theo điểm e hoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009. Mặc dù T a án cấp sơ th m c sai s t, nhưng T a án cấp sơ th m phạt bị cáo Lê Minh T 02 năm tù là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội c a bị cáo và phù hợp với hung hình phạt quy định tại hoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009. Về việc Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng t
iến nghị Chánh án T a án nh n d n cấp cao em t háng nghị bản án theo th t c giám đốc th m để h y một phần bản án sơ th m t đối với bị cáo T n là hông cần thiết nên Hội đồng t
hông chấp nhận nhưng đề nghị T a án cấp sơ th m nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Các phần hác c a quyết định án sơ th m hông c háng cáo, háng nghị đã c hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.
Án phí hình sự phúc th m: Do Hội đồng t chấp nhận yêu cầu háng cáo c a bị cáo Nguyễn Văn M nên bị cáo M không phải nộp.
Vì các lẽ trên;
Q YẾT Đ NH:
Căn cứ điểm b hoản 1 Điều 355; điểm c hoản 1 Điều 357 c a Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;
1. Chấp nhận yêu cầu háng cáo c a bị cáo Nguyễn Văn M; s a Bản án hình sự sơ th m số 08/2018/HS-ST ngày 19 tháng 01 năm 2018 c a T a án nh n dân thị ã T về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn M.
Áp d ng khoản 1 Điều 139; điểm p khoản 1 và hoản 2 Điều 46; điểm g hoản 1 Điều 48; Điều 41; Điều 42 và Điều 53 c a Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009.
X phạt bị cáo Nguyễn Văn M 09 (chín) tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2017, được hấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/01/2017 đến ngày 19/01/2017.
2. Án phí hình sự phúc th m: Bị cáo Nguyễn Văn M không phải nộp.
3. Các quyết định hác c a bản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật, ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị. Bản án phúc th m c hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./. N i nhận:
| - VKSND tỉnh Bình Dương; - Ph ng PV 27 CA tỉnh Bình Dương; - TAND thị ã T; - VKSND thị ã T; - Chi c c THADS thị ã T; - Công an thị ã T; - Bị cáo; - Tổ HCTP; - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA (đã ) Nguyễn Hu nh Đức 1 |