vanban.org

Bản án 31/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tô Thị Sóc K và anh Trần Thanh D.

Về con chung: Chị Tô Thị Sóc K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Tô Kiến H, sinh ngày 16/10/2017. Chị Tô Thị Sóc K không yêu cầu anh Trần Thanh D cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tô Thị Sóc K và anh Trần Thanh D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 4 -2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Trinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bé

2. Ông Thạch Khêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 13 tháng 4 năm 2018, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 164/2018/TLST-HNGĐ, ngày 05/3/2018, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2018/QĐXXST- HNGĐ, ngày 02/4/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị Sóc K, sinh năm 1997, có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt;

Cư trú tại: Ấp Trà U, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

2. Bị đơn: Anh Trần Thanh D, sinh năm 1995, có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt;

Cư trú tại: Ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2018, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Tô Thị Sóc K trình bày:

Về hôn nhân: Vào ngày 01/4/2016, chị và anh Trần Thanh D xác lập quan hệ hôn nhân nhưng không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chị có 01 đứa con chung tên Tô Kiến H, sinh ngày 16/10/2017 hiện nay con chung đang sống chung với chị.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Lúc mới cưới thì hai vợ chồng về sống bên nhà cha mẹ chồng, lúc đầu thì anh D có thương yêu vợ con, sống chung được thời gian thì chị phát hiện tính tình của chị và anh D không hợp nhau, ai cũng tự bảo vệ ý kiến của mình, chị cảm thấy nếu chung sống tiếp thì cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, chị đã về nhà cha mẹ ruột sống, vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 04/2017 cho đến nay.

-Về tài sản chung: Trong ngày cưới gia đình bên chồng có cho chị 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24 Kr, số vàng này hiện nay anh D đang quản lý.

- Về nợ chung: không có.

Nay chị yêu cầu giải quyết:

- Về hôn nhân: Chị Tô Thị Sóc K yêu cầu được ly hôn với anh Trần Thanh D.

- Về con chung: Chị K yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Tô Kiến H, sinh ngày 16/10/2017, tại đơn khởi kiện ngày 26/02/2018 chị có yêu cầu anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng bằng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi nhưng chị K xin thay đổi là không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện ngày 26/02/2018 chị yêu cầu được hưởng 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24 Kr do anh D đang quản lý nay chị K không tranh chấp yêu cầu chia số vàng này.

- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu.

Nguyên đơn chị Tô Thị Sóc K có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt chị.

Tại bản tự khai ngày 29/3/2018, bị đơn anh Trần Thanh D trình bày:

Anh D thống nhất với chị K về thời gian xác lập quan hệ hôn nhân, khi chung sống vợ chồng anh không có đăng ký kết hôn. Về con chung, tài sản chung, nợ chung anh cũng thống nhất như chị K trình bày.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Do chị K hay ghen tuông và tự ý bỏ về nhà mẹ ruột sống, từ đó mạnh ai nấy sống không ai quan tâm ai, anh cũng thống nhất vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2017 cho đến nay nhưng anh không đồng ý ly hôn vì anh còn thương chị K.

Nếu trường hợp Tòa án giải quyết cho chị K được ly hôn với anh thì con chung Tô Kiến H, sinh ngày 16/10/2017 anh đồng ý cho chị K được tiếp tục nuôi dưỡng nhưng anh không cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24 Kr do anh đang quản lý; Về nợ chung: không có. Anh Trần Thanh H yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Những vấn đề các bên đƣơng sự thống nhất: Về con chung chị Tô Thị Sóc K yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Tô Kiến H, sinh ngày 16/10/2017 không yêu cầu cấp dưỡng, anh D thống nhất; Về tài sản chung: Có 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24 Kr do anh D đang quản lý. Về nợ chung: Không có;

Những vấn đề các bên đƣơng sự không thống nhất: Chị Tô Thị Sóc K yêu cầu được ly hôn nhưng anh Trần Thanh D không đồng ý ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Tô Thị Sóc K, anh Trần Thanh D có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị K, anh D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị Sóc K và anh Trần Thanh D sống chung với nhau vào ngày 01/4/2016, không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Xét thấy hôn nhân của anh chị là không hợp pháp, trái với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong thời sống chung anh chị có những mâu thuẫn không thể điều hoà được dẫn đến chị K xin ly hôn với anh D, chị K cho rằng trong cuộc sống vợ chồng tính tình giữa chị và anh D không hợp nhau và cả hai thống nhất đã sống ly thân từ tháng 4/2017 cho đến nay. Anh D không đồng ý ly hôn nhưng xét thấy chị K và anh D xác lập quan hệ hôn nhân không có đăng ký kết hôn là không đúng theo quy định nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị K và anh D.

Về con chung: Chị Tô Thị Sóc K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Tô Kiến H, sinh ngày 16/10/2017, không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con. Anh D cũng thống nhất cho chị K được tiếp tục nuôi con chung và anh D không phải cấp dưỡng. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị K, anh D.

Về tài sản chung: 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24 kr hiện anh D đang quản lý chị K không tranh chấp yêu cầu chia nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị Tô Thị Sóc K, anh Trần Thanh D thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 53, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tô Thị Sóc K và anh Trần Thanh D.

2. Về con chung: Chị Tô Thị Sóc K được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Tô Kiến H, sinh ngày 16/10/2017. Chị Tô Thị Sóc K không yêu cầu anh Trần Thanh D cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24 kr, chị K không tranh chấp yêu cầu chia nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí: Chị Tô Thị Sóc K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0015335, ngày 05/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần. Hoàn trả cho chị Tô Thị Sóc K số tiền chênh lệch bằng 300.000 đồng. Anh Trần Thanh D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Tô Thị Sóc K, anh Trần Thanh D vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ