- Tranh chấp gì? án dân sự — "BẢN ÁN Đ - N,G"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoàng Vũ Đ.
- Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 430 Bộ luật Dân sự; Điều 440 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 31/2018/DSST. Ngày 28/02/2018. Về việc tranh chấp: “ Hợp đồng mua bán tài sản” . |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Việt Chương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tám
2. Ông Trần Trung Nhân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường An- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.
Ngày 28/02/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 479/TLST-DS ngày 25/10/2017 về việc tranh chấp“ Hợp đồng mua bán tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXX-ST ngày 18/01/2018 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng Vũ Đ, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: tồ 01, ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
* Bị đơn: 1- Anh Hồ Văn N, sinh năm 1975. (vắng mặt).
2- Chị Tô Thị G, sinh năm 1972. ( vắng mặt).
Cùng địa chỉ: tồ 01, ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
NÔI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 12/10/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Nguyễn Hoàng Vũ Đ trình bày:
Trước đây vào khoản năm 2003 anh có bán thức ăn gia súc cho anh Hồ Văn N và chị Tô Thị G những năm đó anh N và chị G thanh toán đủ, nhưng thời gian gần đây thì không thanh toán đủ nên đến ngày 11/02/2017 thì giữa anh với anh N và chị G đối chiếu lại nợ thì anh N và chị G còn thiếu anh số tiền 436.873.000 đồng nên giữa anh với anh N và chị G có làm hợp đồng mua bán thức ăn và xác nhận số nợ và có ký tên vào hợp đồng . Sau đó anh vẫn tiếp tục bán thức ăn cho anh N và chị G đến ngày 20/3/2017 chị G, anh N nợ số tiền 468.847.000 đồng . Nhưng sau đó không thấy anh N và chị G trả tiền nên anh có đến đòi nhiều lần nhưng anh N và chị G không trả và kéo dài cho đến nay. Nay anh yêu cầu anh N và chị G phải hoàn trả lại cho anh số tiền 436.873.000 đồng theo hợp đồng mua bán thức ăn ngày 11/02/2017 và không yêu cầu tính lãi. Đối với số tiền 31.974.000 đồng bán sau khi chốt số nợ anh xin rút lại khi nào có yêu cầu anh sẽ khởi kiện sau.
Tại phiên toà hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án anh Hồ Văn N và chị Tô Thị G vắng mặt nhưng đã được tòa án giao thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kết quả hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh N và chị G vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đ.
XÉT THẤY
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu tranh luận của các đương sự Hội đồng xét xử có nhận định:
- Về tố tụng:
- Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoàng Vũ Đ yêu cầu anh Hồ Văn N và chị Tô Thị G trả số tiền 436.873.000 đồng về việc mua bán thức ăn gia súc nên xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào địa chỉ sinh sống của anh Hồ Văn N và chị Tô Thị G ở tổ 01, ấp X, xã Y, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo theo quy định tại khoản 1 điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự . Quan hệ tranh chấp được xác định là hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại điều 430 Bộ luật dân sự .
- Anh Hồ Văn N và chị Tô Thị G đã được tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh N và chị G vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227 và khoản 3 điều 228 bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh N và chị G.
- Về nội dung : Căn cứ vào đơn khởi kiện, bản tự khai của đương sự và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn anh Đ có bán thức ăn gia súc cho anh N và chị G và việc mua bán này phía anh N và chị G thừa nhận và xác định còn nợ anh Đ số tiền 436.873.000 đồng theo hợp đồng mua bán thức ăn ngày 11/02/2017 nhưng đến nay không trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó anh Đang khởi kiện yêu cầu anh N và chị G trả số tiền 436.873.000 đồng là có căn cứ phù hợp Điều 430 bộ Luật dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đ.
Về lãi suất căn anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với số tiền 31.974.000 đồng bán thức ăn sau khi chốt số tiền nợ tại phiên tòa anh Đ không yêu cầu tòa án giải quyết. Xét thấy là sự tự nguyện và quyền tự định đọat của anh Đ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu có yêu cầu thì anh Đ có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác.
Anh Hồ Văn N và chị Tô Thị G tại phiên toà hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án anh N và chị G vắng mặt nhưng đã được tòa án giao thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh N và chị G vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đ, điều đó cho thấy anh N và chị G đã đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh Đ.
Về án phí : Anh N và chị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật do yêu cầu của anh Đ được chấp nhận.
Vì các lẽ trên ;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 bộ luật Tố tụng dân sự
- Khoản 2 Điều 468 , Điều 430 và Điều 440 Bộ luật dân sự;
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hoàng Vũ Đ. Buộc anh Hồ Văn N và chị Tô Thị G trả cho anh Nguyễn Hoàng Vũ Đ số tiền 436.873.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu thêm khoản lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Án phí : Anh Hồ Văn N và chị Tô Thị G phải chịu 21.843.650 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho anh Nguyễn Hoàng Vũ Đ 11.377.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 07720 ngày 25/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.
3- Anh Nguyễn Hoàng Vũ Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Anh Hồ Văn N và chị Tô Thị G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
4- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDTỉnh Tiền Giang; - VKSNDhuyện Cái Bè; - Chi cục THADS huyện Cái Bè ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (ĐÃ KÝ) Trương Việt Chương |