vanban.org

Bản án 31/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 26/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Bùi Văn M 24 (hai mươi tư) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2017. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH
{
Bản án số: 31/2017/HSST
Ngày: 26/9/2017

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Bùi Văn Cƣơng

- Hội thẩm nhân dân: 1. ông: Bùi Văn Thiệu;

2. ông: Nguyễn Đức Kim

- Thư ký ghi biên bản phiên toà bà: Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà ông Lê Xuân Trƣờng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.

Ngày 26/9/2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2017/HSST ngày 08 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Bùi Văn M, sinh ngày 05/10/1990; Nơi ĐKHKTT: xóm Khao, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: xóm Khao, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Bùi Văn Q, sinh năm 1968 và bà Đinh Thị T, sinh năm 1972; gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ là Phạm Thị H, sinh năm 1990; có 01 con: sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không

Hiện bị cáo đang bị tạm tạm giam từ ngày 03/7/2017 tại nhà Tạm giữ Công an tỉnh huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, nay trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời làm chứng:

+ Ông Bùi Văn B. Vắng mặt.

+ Ông Vũ Đình M. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 02/7/2017 Bùi Văn M, sinh năm 1990, trú tại: xóm Khao, xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đi xe mô tô từ nhà sang huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi thì Bùi Văn M gặp một người phụ nữ không rõ tên, tuổi, địa chỉ rồi Bùi Văn M mua được của người này 01 (một) túi ni long bên trong là gói giấy màu vàng có chưa Heroine với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, Bùi Văn M cất giấu ma túy trong người rồi đi xe mô tô trở về nhà. Đến sáng ngày 03/7/2017, Bùi Văn M lấy một ít Heroine trong gói mua được ở huyện Kim Bôi mang ra sử dụng và để số ma túy còn lại trong người. Đến 18 giờ 45 phút cùng ngày khi Bùi Văn M đang đi bộ tại khu vực phố Cháy, xã Liên Vũ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình thì bị Tổ công tác Công an huyện Lạc Sơn đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số Heroine mà Bùi Văn M đang cầm trong tay phải. Tổ công tác Công an huyện Lạc Sơn đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và đưa Bùi Văn M về trụ sở làm việc.

Ngày 04/7/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 66, trưng cầu Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Hòa Bình giám định chất bột màu trắng thu giữ trên người Bùi Văn M. Tại bản kết luận giám định số 136/PC54 ngày 07/7/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: mẫu chất bột dạng cục, màu trắng trong phong bì niêm phong ghi tên Bùi Văn M gửi giám định có trọng lượng 0,40g (không phẩy bốn mươi gam) là chất ma túy, loại Heroine.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Bùi Văn M đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Hiện toàn bộ vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án huyện Lạc Sơn để chờ xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số: 31/KSĐT ngày 05/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn M về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Thực hành quyền công tố tại phiên toà: đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng trên đồng thời đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1; khoản 2 Điều 46 BLHS xử phạt Bùi Văn M từ 24 đến 30 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 194 BLHS đối với bị cáo do không có tính khả thi.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 41 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng Hình sự thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật hoàn lại sau giám định được lưu giữ trong phong bì niêm phong ở Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình

Đối với người phụ nữ đã bán heroin cho Bùi Văn M vào ngày 02/7/2017 tại khu vực huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, do không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu và đặc điểm nhận dạng nên cơ quan điều tra Công an huyện Lạc Sơn không đủ căn cứ để xác định đối tượng này đề nghị HĐXX không đề cập xem xét.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo trở thành người lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA HÔI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạc Sơn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn M có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 03/7/2017; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong vật chứng và bản kết luận giám định số 136/PC54 ngày 07/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình; lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 18 giờ 45 phút ngày 03/7/2017, bị cáo Bùi Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,40 gam với mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn huyện Lạc Sơn, xâm phạm đến chính sách độc quyền, quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo nhất thời phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Ngoài ra, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14 quy định áp dụng các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng có lợi cho người phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng quy định của khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các tình tiết nêu trên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiền tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, đang ở cùng với gia đình, điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng không nhằm mục đích kiếm lời bất chính nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Bùi Văn M tài liệu điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ được của bị cáo Bùi Văn M là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Bùi Văn M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.

- Áp dụng Điều 33; khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn M 24 (hai mươi tư) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2017.

2. Xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và Điều 76 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo Bùi Văn Mạnh.

Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2017 giữa Công an huyện Lạc Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Bùi Văn M phải nộp 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 234 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo Bùi Văn M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ