vanban.org

Bản án 31/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H’ A Aỹun.

Về quan hệ hôn nhân: Bà H’ A Aỹun được ly hôn với ông Y B Niê. Về con chung: Giao cháu Y Z Aỹun, sinh ngày 30/3/2008 và Y Z1 Aỹun, sinh ngày 23/11/2014 cho bà H’ A Aỹun. Giao cháu H’ N Aỹun, sinh ngày 08/9/2002 cho ông Y B Niê trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn H N - Y R"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H’ A Aỹun.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƢ M’GAR
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2017/HNGĐ-ST
Ngày 22- 9-2017.
“V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR –TỈNH ĐĂK LĂK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Nguyễn Văn Mạnh.

2. Bà Cao Thị Hồng Châu.

- Thư ký phiên toà: Ông Y Lợi Niê – Thư ký Tòa án nhân dân huyện E .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện E , tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Ông Y Hiăng Kbuôr - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 09 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện E , xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:159/2017/TLST-HNGĐ, ngày 14/6/2017, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” . Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2017/QĐXX-ST, ngày 22/8/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà H’ A Aỹun, sinh năm 1984 – có mặt

Trú tại: Buôn C, xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.

2. Bị đơn: Ông Y B Niê, sinh năm 1981 – có mặt Trú tại: Buôn C, xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn: Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa bà H’ A Aỹun trình bày:

Tôi và anh Y B Niê qua quá trình tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân. Chúng tôi có đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 14/02/2003, tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Quá trình chung sống chúng tôi đã có với nhau 03 con chung, gồm có: H’ N Aỹun, sinh ngày 08/9/2002; Y Z Aỹun, sinh ngày 30/3/2008 và Y Z1 Aỹun, sinh ngày 23/11/2014.

Về đời sống hôn nhân: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đầm ấm không có vấn đề gì, nhưng kể từ cuối năm 2016 cho đến nay, vợ chồng tôi bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, ngày càng gay gắt không thể hàn gắn được. Nguyên nhân là do chồng tôi không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu say sỉn đánh đập vợ con. Nay tôi xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh Y B Niê. Vì vậy tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Y BNiê.

Về con chung: Nguyện vọng tôi xin được nuôi dưỡng 02 con nhỏ là các cháu Y Z Aỹun, sinh ngày 30/3/2008 và Y Z1 Aỹun, sinh ngày 23/11/2014, giao cho chồng tôi nuôi con lớn là cháu H’ N Aỹun, sinh ngày 08/9/2002 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu chồng tôi cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí LHST: Tôi xin tự nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn: Tại bản tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa ông Y B Niê trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung như phần trình bày của vợ tôi là hoàn toàn đúng, tôi không bổ sung gì thêm.

Về tình cảm vợ chồng: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau đầm ấm, hạnh phúc, chỉ từ khoảng cuối năm 2016 đến nay chúng tôi bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn và ngày càng gay gắt không thể hàn gắn được. Nguyên nhân là do chuyện làm ăn của vợ tôi dẫn đến nợ nần không có khả năng trả nợ. Ngoài ra vợ tôi thường xuyên bỏ nhà đi không quan tâm gì đến chồng con, đã nhiều lần tôi giải thích, khuyên bảo vợ tôi vì không muốn gia đình đổ vỡ ly tán, các con sống cảnh thiếu tình cảm thương yêu của bố mẹ, ở với bố thì không có mẹ, ở với mẹ thì không có bố, nhưng vợ tôi không nghe nên tôi thừa nhận có đánh vợ hai lần dẫn đến vợ tôi bỏ đi luôn. Hiện tại cô ấy đang thuê nhà ở ngoài Tp. Buôn Ma Thuột được 05 tháng nay không về nhà. Nay vợ tôi làm đơn xin ly hôn quan điểm của tôi là không đồng ý ly hôn, bởi vì tôi vẫn còn thương yêu vợ, không muốn gia đình đổ vỡ. Vì vậy tôi đề nghị Tòa án hòa giải để chúng tôi được đoàn tụ.

Về con chung: Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, tôi có nguyện vọng xin nuôi cả 03 con chung, tôi yêu cầu vợ tôi cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chúng tôi xin tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà H’ A Aỹun giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không bổ sung gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án:

Về thủ tục tố tụng:

- Đối với Thẩm phán: Đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với HĐXX: Đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự

- Đối với đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 70; Điều 71; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H’ A Aỹun.

- Về con chung: Giao cháu Y Z Aỹun, sinh ngày 30/3/2008 và Y Z1 Aỹun, sinh ngày 23/11/2014 cho bà H’ A Aỹun. Giao cho ông Y B Niê nuôi cháu H’ N Aỹun, sinh ngày 08/9/2002 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con bà H’ A Aỹun không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có tài sản chung, nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện CưM’gar theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để xác định: Bà H’ A Aỹun và ông Y B Niê là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào ngày 14/02/2003, tại Ủy ban nhân dân xã D , huyện E , tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Quá trình duy trì cuộc sống chung vợ chồng, giữa ông bà nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng dẫn đến hai người sống ly thân nhau từ cuối năm 2016 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà H’ A Aỹun là do ông Y B Niê không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu, say xỉn đánh đập vợ con. Nay bà H’ A Aỹun yêu cầu được ly hôn với ông Y B Niê vì mâu thuẫn giữa hai người đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; phía ông Y B Niê cũng thừa nhận từ cuối năm 2016 trở lại đây giữa hai người xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến ông bà sống ly thân nhau. Nguyên nhân là do chuyện làm ăn của vợ ông. Tuy nhiên ông không đồng ý ly hôn vì ông vẫn còn thương yêu vợ, không muốn gia đình đổ vỡ, ly tán.

Qua xaùc minh về tình trạng hôn nhân của ông bà taïi ñòa phöông thì được biết: Trong quá trình duy trì cuộc sống hôn nhân giữa bà H’ A Aỹun và ông Y B Niê thời gian gần đây nảy sinh nhiều mâu, nguyên nhân là do lo việc làm ăn của hai người không cùng trí hướng. Ông Y B Niê không lo làm ăn mà thường xuyên uống rượu dẫn đến không làm chủ được hành vi và lý trí, chính quyền địa phương cũng đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa; Bà H’ A Aỹun vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông Y B Niê. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa hai ông bà đã rất trầm trọng và kéo dài dẫn đến ông bà sống ly thân nhau từ cuối năm 2016 cho đến nay. Trong thời gian xảy ra mâu thuẫn, mặc dù đã được hai bên gia đình và chính quyền địa phương động viên, hòa giải nhiều lần nhưng ông bà vẫn không có ý thức để hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân gia đình. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của bà H’ A Aỹun để bà H’ A Aỹun ly hôn với ông Y BNiê là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có với nhau 03 con chung. Tại phiên tòa ông Y B Niê có nguyện vọng nuôi cả 03 con chung và yêu cầu bà H’ A Aỹun cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; Về phía bà H’ A Aỹun có nguyện vọng nuôi 02 con nhỏ, còn con lớn giao cho ông Y B Niê nuôi dưỡng. Tại Tòa án cháu H’ N Aỹun có lời khai thể hiện nguyện vọng được ở với bố; cháu Y Z Aỹun thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ; còn cháuY Z1 Aỹun, sinh ngày 23/11/2014 tính đến thời điểm xét xử cháu chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần giao cho mẹ nuôi là phù hợp khoản 3, Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Từ những căn cứ nói trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Y Z Aỹun, sinh ngày 30/3/2008 và Y Z1 Aỹun, sinh ngày 23/11/2014 cho bà H’ A Aỹun. Giao cháu H’ N Aỹun, sinh ngày 08/9/2002 cho ông Y B Niê trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con bà H’ A Aỹun không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Bà H’ A Aỹun và ông Y B Niê được quyền đi lại, thăm nom chăm và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản quyền này.

Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không đặt ra xem xét.

Về án phí LHST: Bà H’ A Aỹun phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết 326/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H’ A Aỹun.

Về quan hệ hôn nhân: Bà H’ A Aỹun được ly hôn với ông Y B Niê.

Về con chung: Giao cháu Y Z Aỹun, sinh ngày 30/3/2008 và Y Z1 Aỹun, sinh ngày 23/11/2014 cho bà H’ A Aỹun. Giao cháu H’ N Aỹun, sinh ngày 08/9/2002 cho ông Y B Niê trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con bà H’ A Aỹun không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Bà H’ A Aỹun và ông Y B Niê được quyền đi lại, thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản quyền này.

Về tài sản chung và nợ chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí LHST: Bà H’ A Aỹun phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2014/0042298, ngày 07/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện E, tỉnh ĐắkLắk

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ