vanban.org

Bản án 31/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Lý được ly hôn với anh Phan Ty.

Về con chung: Giao cháu Phan Nghĩa, sinh ngày 20/9/2002 cho chị Nguyễn Thị Lý tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi cháu Nghĩa đủ 18 tuổi. Anh Phan Ty không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Ty có quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Lý phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn với người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Lý được ly hôn với anh Phan Ty.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÔNG
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 15-9-2017
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÔNG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Duy Phong.

2. Ông Phạm Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Phạm Đức Toàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2017/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2017 về việc: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1978.

Nơi cư trú: Xã TQ, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Phan Ty, sinh năm: 1975.

Nơi cư trú cuối cùng: Xã HL, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế - Vắng mặt (Đã tuyên bố mất tích).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/8/2017 và biên bản lấy lời khai của đương sự, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị L với anh Phan T có đi đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 16/11/2001 tại Uỷ ban nhân dân xã Thượng Quảng, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cuộc hôn nhân của vợ chồng là hoàn toàn tự nguyện và không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị Lý về sống tại gia đình anh Ty, địa chỉ: Thôn 2, xã Hương Lộc, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế được 07 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh Ty thường xuyên uống rượu, về nhà gây gỗ, đánh đập chị Lý nhiều lần, do không chịu được bạo lực của anh Ty nên chị Lý đã về nhà mẹ ruột tại thôn 6, xã Thượng Quảng, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế ở cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân giữa chị Lý và anh Ty không liên lạc với nhau, cũng không khuyên bảo về sống với nhau. Vào cuối năm 2015 để làm thủ tục ly hôn với anh Phan Ty, chị Lý đã đến gia đình anh Ty nhưng được biết anh Ty đã đi khỏi địa phương từ tháng 5 năm 2006 tính đến nay đã hơn 11 năm hoàn toàn không có tin tức gì về anh Ty. Chị Lý yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Ty mất tích để có cơ sở ly hôn với anh Ty. Ngày 18/7/2017 Tòa án nhân dân huyện Nam Đông ra Quyết định giải quyết việc dân sự số 06/2017/QĐDS-ST tuyên bố anh Phan Ty mất tích. Nay chị Lý có đơn xin ly hôn với người bị mất tích anh Phan Ty.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị Lý và anh Ty có 01 người con chung, cháu tên là Phan Nghĩa, sinh ngày 20/9/2002. Hiện nay, cháu Nghĩa đang được chị Lý nuôi dưỡng và chăm sóc. Sau khi ly hôn chị Lý có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Nghĩa đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lý không yêu cầu anh Phan Ty phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên chị Lý không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa như sau:

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 56; Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Lý được ly hôn với anh Phan Ty. Về con chung: Giao cháu Phan Nghĩa, sinh ngày 20/9/2002 cho chị Lý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu Nghĩa đủ 18 tuổi. Anh Phan Ty không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lý không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lý và bị đơn anh Phan Ty đều vắng mặt, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đông đề nghị xét xử vắng mặt vì chị Lý đã có đơn xin xét xử vắng mặt và anh Phan Ty đã được Toà án tuyên bố mất tích. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý với anh Phan Ty có đi đăng ký kết hôn hợp pháp vào ngày 16/11/2001 tại Uỷ ban nhân dân xã Thượng Quảng, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế, điều kiện và thủ tục kết hôn đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu của chị Lý, thấy rằng: Quá trình chung sống vợ chồng được thời gian thì anh Phan Ty tự ý bỏ đi khỏi địa phương và không sống chung với chị Lý thời gian đã lâu. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 06/2017/QĐDS-ST ngày 18/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đông tuyên bố anh Phan Ty mất tích và Quyết định này đã có hiệu lực pháp luật, đến nay không ai biết anh Ty đang ở đâu. Như vậy tình trạng vợ chồng chị Lý và anh Ty đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Lý được ly hôn với anh Phan Ty.

2. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng giữa chị Lý và anh Ty có 01 người con chung, cháu tên là Phan Nghĩa, sinh ngày 20/9/2002. Hiện nay, cháu Nghĩa đang được chị Lý nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị Lý có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nghĩa đến khi đủ 18 tuổi. Do bị đơn anh Ty là người bị Tòa án tuyên bố mất tích nên không đủ cơ sở, điều kiện nuôi dưỡng cháu Nghĩa và theo nguyện vọng của cháu Nghĩa là được ở với chị Lý. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Nghĩa, cần căn cứ các Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình để giao cháu Nghĩa cho chị Lý trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi cháu Nghĩa đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Nguyễn Thị Lý không yêu cầu anh Ty phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Ty.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lý không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Lý phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 68 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 51, khoản 2 Điều 56, Điều 81 và Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Lý được ly hôn với anh Phan Ty.

2. Về con chung: Giao cháu Phan Nghĩa, sinh ngày 20/9/2002 cho chị Nguyễn Thị Lý tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc đến khi cháu Nghĩa đủ 18 tuổi. Anh Phan Ty không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Ty có quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Lý phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí mà chị Lý đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2011/000612 ngày 11/8/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người nêu trên vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng anh Ty có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bán án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Đương sự;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

- Viện kiểm sát cùng cấp;

- Chi cục THADS huyện Nam Đông;

- Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu án văn.

Phan Trình

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các Hội thẩm

Thẩm phán - Chủ toà phiên toà Nguyễn Duy Phong Phạm Văn Cƣờng

Phan Trình

Cỡ chữ