vanban.org

Bản án 30A/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn L được ly hôn bà Võ Thị Thanh T. Về con chung: Ông L và bà T có 2 con chung là Nguyễn Võ Phương N, sinh ngày 22/3/2012 và Nguyễn Võ Thiên K, sinh ngày 14/9/2017. Giao 2 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của ông L… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn L - Võ Thị Thanh T - T/C ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30A/2023/HNGĐ-ST
Ngày 25-4-2023
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Trí. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Di và ông Nguyễn Bá Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 291/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31/3/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1986 (vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ A Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Bà Võ Thị Thanh T, sinh năm 1985 (vắng mặt không có lý do).

Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không hòa giải được tại tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn L trình bày:

Ông Nguyễn Văn L và bà Võ Thị Thanh T tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn, tổ chức đám cưới. Đến năm 2020 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bà T có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, mặc ai nấy sống. Vợ chồng có nói chuyện hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay ông L nhận thấy không còn tình cảm, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không thể chung sống với bà T được nữa. Vì vậy ông L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông L và bà T có 2 con chung là Nguyễn Võ Phương N, sinh ngày 22/3/2012 và Nguyễn Võ Thiên K, sinh ngày 14/9/2017. Cả 2 cháu N và K hiện nay đang ở với bà T, ông L yêu cầu giao cả 2 cháu N và K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ông L đồng ý cấp dưỡng nuôi 2 cháu N và K mỗi cháu 1.000.000đồng/tháng, tính từ ngày 01/5/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về ý kiến của bị đơn bà Võ Thị Thanh T: Trong quá trình tố tụng, bà tâm đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì.

- Theo Biên bản xác minh ngày 07/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền có nội dung như sau: Bà Võ Thị Thanh T, sinh năm 1985 có hộ khẩu thường trú tại Tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và hiện nay bà T vẫn sinh sống cùng với gia đình và 2 con là Nguyễn Võ Phương N, sinh ngày 22/3/2012 và Nguyễn Võ Thiên K, sinh ngày 14/9/2017 tại địa chỉ này. Về mâu thuẫn của vợ chồng bà T thì khu phố H không rõ.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông L. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông L, giao 2 con chung là Nguyễn Võ Phương N, sinh ngày 22/3/2012 và Nguyễn Võ Thiên K, sinh ngày 14/9/2017 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của ông L: Ông L cấp dưỡng nuôi 2 cháu N và K mỗi cháu 1.000.000đồng/tháng, tính từ ngày 01/5/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung: Ông L không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Ông L và bà T tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy, mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa ông L và bà T là có thật, vợ chồng không có sự đồng cảm, quan tâm, chia sẻ buồn vui cùng nhau, vợ chồng đã sống ly thân, không hàn gắn được, mặc ai nấy sống. Như vậy, quan hệ hôn nhân của ông L và bà T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông L.

Về con chung: Ông L xác nhận ông L và bà T có 2 con chung là Nguyễn Võ Phương N, sinh ngày 22/3/2012 và Nguyễn Võ Thiên K, sinh ngày 14/9/2017. Cả 2 cháu hiện nay đang ở với bà T, ông L yêu cầu giao cả 2 cháu cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi 2 cháu N và K mỗi cháu 1.000.000đồng/tháng, tính từ ngày 01/5/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Xét thấy: 2 cháu N và K hiện nay đang ở với bà T và bà T không đến Tòa trình bày ý kiến nên xem xét chấp nhận yêu cầu của ông L, giao 2 cháu N và K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông L về việc đồng ý cấp dưỡng nuôi 2 cháu N và K mỗi cháu 1.000.000đồng/tháng, tính từ ngày 01/5/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông L, bà T không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Ông L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn L được ly hôn bà Võ Thị Thanh T.

- Về con chung: Ông L và bà T có 2 con chung là Nguyễn Võ Phương N, sinh ngày 22/3/2012 và Nguyễn Võ Thiên K, sinh ngày 14/9/2017. Giao 2 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của ông L về việc cấp dưỡng nuôi 2 cháu N và K mỗi cháu 1.000.000đồng/tháng, tính từ ngày 01/5/2023 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Ông Nguyễn Văn L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông L và bà T không yêu cầu giải quyết nên không xét đến.

2. Án phí: Áp dụng Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Văn L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 09147 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền. Như vậy, ông L còn phải nộp 300.000 đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/4/2023) đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND tỉnh BR-VT;

- VKSND huyện Long Điền;

- THADS huyện Long Điền;

(Đã ký)

- Các đương sự;

- UBND thị trấn Long Hải, huyện Long Điền;

- Lưu hồ sơ.

Đỗ Hữu Trí

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ