- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt Đào Tiến T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2024.
- Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH -:- Bản án số: 309/2024/HSST Ngày 16/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Ninh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Giới
2. Bà Phạm Thu Hà
Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Cảnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Trần Anh Linh và ông Hồ S Trung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại phòng xét xử số I Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 314 /2024/TLST - HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 308/2024/QĐXXST - HS ngày 03/12/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Tiến T - Tên gọi khác: không - Giới tính: Nam;
Sinh ngày 30/7/1990, tại: thành phố Hải Phòng;
Nơi cư trú: Thôn T H, xã A T, huyện A L, H P;
Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do;
Họ và tên bố: Đào Văn Th; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N - Đã chết;
Họ và tên vợ: Nông Thị Ph; có 02 con, con lớn sinh năm 2011 con nhỏ sinh năm 2016;
Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo Đào Tiến T bị tạm giữ từ ngày 06/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh – có mặt
- Bị hại: anh Đặng Văn T1 (đã chết)
Đại diện của bị hại: chị Đ Thị Ng; địa chỉ: thôn C, xã Q, huyện A, tỉnh H – vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nông Thị Ph; địa chỉ: Thôn T H, xã A T, huyện A L, H P – có mặt
- Người làm chứng:
anh Nguyễn Đức C, anh Nguyễn Văn Đ – vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/7/2023 Đào Tiến T và các anh Đặng Văn T1, Nguyễn Đức C được thuê sửa chữa nội thất cho tàu du lịch LiLy, biển số QN-6500 neo đậu tại khu công nghiệp Cái Lân thuộc tổ 8, khu 10, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long. Cả ba được bố trí ăn, ngủ, sinh hoạt trên tàu, trong đó anh T1 ở phòng 202, T ở phòng 203 còn anh C ở tầng 3. Khoảng 03 giờ ngày 15/7/2023, T ngủ dậy đi ra hành lang tầng 2 thì thấy cửa phòng anh T1không đóng, anh T1 ngủ say nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của anh T1. T lén lút đến khu vực đầu giường, trộm cắp 01 chiếc ví da và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh của anh T1 rồi mang về phòng của T . Tại đây, T kiểm tra thì thấy có 1.050.000 đồng và giấy tờ cá nhân của anh T1 trong ví, T lấy 1.050.000 đồng cho vào túi cá nhân rồi cất giấu chiếc điện thoại cùng chiếc ví trộm cắp được của anh T1ở l lắp đèn âm trần của phòng 207. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, anh T1 ngủ dậy thì phát hiện bị mất trộm những tài sản trên nên đã nhờ anh C và T đi tìm, quá trình tìm kiếm anh T1 đọc mật khẩu màn hình và mật khẩu tài khoản icloud chiếc điện thoại cho anh C và T để h trợ tìm máy. Khoảng 10 giờ cùng ngày, T lấy chiếc điện thoại trộm cắp được đến cửa hàng di động Hồng Đông của anh Nguyễn Văn Đ tại số 213 tổ 5, khu 4, phường Giếng Đáy, thành phố Hạ Long bán với giá 9.000.000 đồng và mua 01 chiếc điện thoại Iphone 6 plus với giá 1.000.000 đồng. Số tiền còn lại T đã chi tiêu cá nhân hết.
Lợi dụng anh T1 khó khăn trong việc làm lại giấy tờ và trong quá trình làm việc anh T1 nói "Nếu có ai cho chuộc giấy tờ thì 10.000.000đ cũng chuộc" nên T nảy sinh ý định cưỡng đoạt tiền của anh T1để nạp game. T mua 01 sim điện thoại với giá 100.000đ (không rõ số thuê bao) rồi lập tài khoản mạng xã hội Zalo có tên "Về đâu". Khoảng 19 giờ ngày 22/7/2023, T dùng tài khoản Zalo “Về đâu” giả làm người khác, liên tục nhắn tin thúc giục, yêu cầu anh T1phải chuyển 5.000.000đ đến số tài khoản 188689989 - MB Bank - Lê Văn Hạnh để chuộc lại chiếc ví cùng giấy tờ nếu không sẽ vất đi. Khoảng 09 giờ ngày 23/7/2023, anh T1 đồng ý, nhờ anh C chuyển 3.000.000 đồng vào tài khoản Lê Văn Hạnh trên theo yêu cầu của T , nên T quay lại tàu lấy chiếc ví trộm cắp được rồi để ở khu vực gốc cây gần cột mốc Km3, đường Cái Lân, phường Bãi Cháy và chụp ảnh lại.
Khoảng 12 giờ cùng ngày, anh T1 tiếp tục nhờ anh C chuyển 2.000.000 đồng vào tài khoản Hạnh nêu trên theo yêu cầu của T thì Tgửi hình ảnh vị trí để chiếc ví cho anh T1. Sau khi anh T1 lấy lại được chiếc ví, thì anh T1 nhắn tin xin chuộc lại điện thoại, T yêu cầu anh T1 phải chuyển thêm 5.000.000đ, mới chỉ ch để anh T1 chuộc lại điện thoại. Anh T 1 tiếp tục nhờ anh C chuyển khoản hộ nhưng do hết tiền nên anh C chỉ chuyển 3.000.000đ vào tài khoản Hạnh nêu trên và xin T cho chuộc lại điện thoại nhưng T không đồng ý và chặn liên lạc với anh T 1. Do nghi ngờ T là người trộm cắp tài sản của mình trên tàu vào tối ngày 15/7/2024, nên tối ngày 24/7/2023 anh T 1 và anh C hẹn T đến tầng 2 quán trà chanh TukTăk tại khu 3A, phường Giếng Đáy, thành phố Hạ Long để nói chuyện. Tại đây, T thừa nhận hành vi phạm tội của mình và hẹn sẽ đi chuộc máy điện thoại cho anh T 1, nhưng sau đó T bỏ trốn khỏi thành phố Hạ Long. Sau đó, anh T 1 nhiều lần nhắn tin đến tài khoản Zalo "T An Tiến" của T để yêu cầu T chuộc lại máy, thì một lần nữa T nhắn tin thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhắn vị trí cửa hàng nơi T đã bán chiếc điện thoại trộm cắp được của anh T 1, sau đó chặn liên lạc. Anh T 1 cùng anh C đến cửa hàng điện thoại thì được biết, chiếc điện thoại của anh T 1 đã bán cho người khác. Do bận việc nên ngày 21/10/2023 anh T 1 mới đến công an trình báo việc bị mất trộm như nội dung trên nhưng số tiền bên trong ví của anh T 1 là khoảng 3.000.000 đồng.
Ngày 05/8/2024 Đào Tiến T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long đầu thú, khai nhận như nội dung trên, tuy nhiên T chỉ thừa nhận trong ví của anh T có 1.050.000 đồng chứ không phải 3.000.000 đồng. Do thời gian đã lâu nên T không nhớ số thuê bao, mật khẩu tài khoản Zalo “Về đâu” và cưỡng đoạt 8.000.000 đồng của anh T để nạp game gì. Do mới bán chiếc điện thoại trộm cắp được, nên T nghĩ chiếc điện thoại vẫn còn, nếu anh T 1 chuyển đủ tiền T sẽ chỉ ch để anh T 1 đến chuộc. Chiếc điện thoại Iphone 6 plus T đã bị hỏng nên T đã vứt đi.
Kết luận định giá số 218 ngày 11/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Hạ Long kết luận: Chiếc máy điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Promax màu xanh, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng trị giá 9.822.000 đồng.
Công văn số 36 ngày 31/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Hạ Long kết luận: Không đủ cơ sở để định giá 01 chiếc ví bằng da màu nâu, loại ví vuông, không có nhãn hiệu chủng loại, ví cũ đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra, và tại phiên tòa Đào Tiến T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã quy kết, ngoài ra bị cáo còn khai nhận, do thấy anh T 1 sơ hở, không khóa cửa phòng, nên khi bị cáo nhìn thấy tài sản của anh T 1, đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu sài. Khi thấy anh T 1làm lại giấy tờ khó khăn và có ý muốn chuộc lại giấy tờ, bị cáo đã mua một sim rác, lập tài khoản Zalo “về đâu” mục đích để liên lạc với anh T 1 để buộc anh T 1phải trả tiền chuộc ví, giấy tờ. Sau khi anh T 1 nộp số tiền 5.000.000đ và có ý định xin chuộc lại chiếc điện thoại, bị cáo đã nảy sinh ý định tiếp tục cưỡng đoạt tiền của anh T 1, bị cáo yêu cầu anh T 1 phải chuyển thêm 5.000.000đ, mới chỉ ch để anh T 1 chuộc lại điện thoại. Do anh T 1 chỉ chuyển 3.000.000đ vào tài khoản Hạnh và xin bị cáo cho chuộc lại điện thoại nhưng bị cáo không đồng ý và chặn liên lạc với anh T 1. Bị cáo thừa nhận đã chiếm đoạt của anh T 1 số tiền 8.000.000đ, sau khi nói chuyện với anh T 1 và C , lấy lý do là đi lấy máy điện thoại về cho anh T 1, do đã tiêu hết tiền, bị cáo đã bỏ trốn và chặn liên lạc với anh T 1. Tài khoản số 188689989 - MB Bank - Lê Văn Hạnh là tài khoản quản lý chơi Game của bị cáo, bị cáo nạp vào chỉ để mua vũ khí trang bị cho nhân vật trong game, không phải đánh bạc. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp một mình, không bàn bạc hay bị ai ép buộc, xúi giục khi thực hiện hành vi trộm cắp, sau khi bỏ trốn, bị cáo đã đi làm nhiều nơi, trong thời gian này bị cáo không vi phạm pháp luật gì, sau đó bị cáo đã ra đầu thú. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã tác động và nhờ gia đình bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 20.000.000đ, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố đối với bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện và đúng người, đúng tội, không oan.
* Bị hại
Anh Đặng Văn T 1 có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về việc anh và bị cáo cùng anh Nguyễn Đức C được thuê sửa chữa nội thất tàu du lịch LiLy, biển số QN-6500 neo đậu tại khu công nghiệp Cái Lân từ ngày 12/7/2023 và được bố trí ăn ngủ trên tàu, trong đó anh T 1 ở phòng 202, T ở phòng 203 còn anh C ở tầng 3. Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 15/7/2023, anh ngủ dậy thì phát hiện bị mất trộm những tài sản trên nên đã nhờ anh C và T đi tìm, quá trình tìm kiếm anh có đọc mật khẩu màn hình và mật khẩu tài khoản icloud chiếc điện thoại cho anh C và T để h trợ tìm máy. Lời khai của anh T 1 sau đó phù hợp với lời khai của bị cáo, cho đến khi bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh, xin đi lấy điện thoại rồi bỏ trốn, sau khi cung cấp cho anh địa chỉ nơi bị cáo đã bán máy điện thoại, đã chặn liên lạc của anh.
Chị Đ Thị Ng là người đại diện của anh T 1 có lời khai: anh T 1 là chồng chị, ngày 19/11/2023 anh T 1 đã chết tại nhà riêng do tai nạn. Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện gia đình bị cáo là chị Nông Thị Ph đã bồi thường cho chị số tiền 20.000.000đ, đến nay chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, về phần hình phạt chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhe hình phạt cho bị cáo.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Chị Nông Thị Ph có lời khai: chị và bị cáo là vợ chồng hợp pháp, khi sự việc xảy ra, bị cáo đã nhờ chị và gia đình bồi thường cho bị hại, chị đã gặp và bồi thường cho chị Đào Thị Ng là vợ của anh T 1số tiền 20.000.000đ. Đây là số tiền chung của cả hai vợ chồng, chị không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho chị và không có ý kiến gì khác.
Người làm chứng:
Anh Nguyễn Đức C , là người làm cùng với bị cáo và anh T 1 trên tàu du lịch, có lời khai có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, của anh T 1 về toàn bộ diễn biến sự việc, từ khi anh T 1 phát hiện mất tài sản, anh T 1 nhờ anh chuyển tiền chuộc ví, điện thoại, đến thời điểm anh và anh T 1nói chuyện với bị cáo, được nghe bị cáo thừa nhận đã lấy tài sản của anh T 1, sau đó bị cáo lấy lý do đi lấy điện thoại về trả cho anh T 1 và đã bỏ trốn. Anh Nguyễn Văn Đ có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo về việc khoảng 10 giờ ngày 15/7/2023, anh đã mua lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh, bộ nhớ trong 64GB của một nam thanh niên với giá 9.000.000đ, khi mua anh có hỏi về lai lịch của điện thoại thì người đó nhận là điện thoại của mình, sau đó người đó đã mua lại của anh 01 di động nhãn hiệu Iphone 6 với giá 1.000.000đ, anh trả cho người đó số tiền 8.000.000đ, sau khi nhận tiền và điện thoại, người đó bỏ đi, làm gì anh không được biết. Chiếc điện thoại anh mua, anh đã bán cho một khách hàng khác không rõ lai lịch, địa chỉ.
Tại bản cáo trạng số 5785/CT – VKSHL ngày 26/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố Đào Tiến T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long giữ nguyên quyết định truy tố Đào Tiến T theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; (điểm g khoản 1 Điều 52 đối với tội “Cưỡng đoạt tài sản”); Điều 55 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Đào Tiến T từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2024.
Xử phạt Đào Tiến T từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2024.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 27 (hai mươi bẩy) tháng tù đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà bị cáo Đào Tiến T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với chính lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ ngày 15/7/2023, tại phòng 202 của tàu du lịch LiLy, biển số QN-6500 neo đậu tại khu công nghiệp Cái Lân thuộc tổ 8, khu 10, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long, Đào Tiến T đã có hành vi lén lút, trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Promax màu xanh trị giá 9.822.000 đồng và 01 chiếc ví da bên trong có 1.050.000 đồng của anh Đặng Văn T 1. Tổng giá trị tài sản T trộm cắp của anh T 1 là 10.872.000 (Mười triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn) đồng.
Trong các ngày 22/7/2024 và 23/7/2024, T đã 02 lần có hành vi nhắn tin đe dọa, uy hiếp tinh thần khiến anh T 1phải chuyển tiền để chuộc lại ví và chiếc điện thoại để chiếm đoạt tổng số tiền 8.000.000 (Tám triệu) đồng của anh T 1.
Bị cáo Đào Tiến T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với l i cố ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã dùng thủ đoạn lợi dụng đêm tối và sự sơ hở của người khác, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị 10.872.000 đồng. Sau đó đã lợi dụng sự khó khăn trong việc làm lại giấy tờ và sự cần thiết tìm lại tài sản của bị hại, đã sử dụng thủ đoạn lập tài khoản Zalo nhắn tin nội dung uy hiếp tinh thần, nhằm chiếm đoạt tài sản 8.000.000 đồng của anh T 1. Hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được qui định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” được qui định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự
Điều 170 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến đến 05 năm.”.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.
Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đào Tiến T về tội “Trộm cắp tài sản” qui định tại khoản 1 Điều 173 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” được qui định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật.
Bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được các quy định của pháp luật về quyền sở hữu về tài sản của người khác, nhưng do lười lao động, thiếu tu d-ưỡng bản thân, coi thường pháp luật dẫn đến phạm tội, vì vậy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đào Tiến T cưỡng đoạt tài sản của anh T 1 hai lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tiền án, tiền sự; tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; người đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, có bà nội là người có công với cách mạng hiện đang hưởng chế độ, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo là người không có thu nhập ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 20.000.000 đồng, người đại diện của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, vì vậy không xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 6 plus T sử dụng để nhắn tin cưỡng đoạt tiền với anh T 1 đã vứt đi, không truy tìm được; đối với anh Nguyễn Văn Đ không biết nguồn gốc chiếc điện thoại T bán là tài sản do phạm tội mà có; đối với tài khoản số 188689989 - MB Bank - Lê Văn Hạnh, kết quả điều tra xác định, chủ tài khoản ngân hàng có thông tin như trên, không tồn tại trên hệ thống dữ liệu dân cư của địa phương, thực tế kiểm tra cũng không có con người này, xác định đây là tài khoản ngân hàng ảo. Vì vậy, không đề cập xử lý.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; (điểm g khoản 1 Điều 52 đối với tội “Cưỡng đoạt tài sản”); Điều 55 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Đào Tiến T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2024.
Xử phạt Đào Tiến T 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2024.
Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/8/2024.
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
Buộc bị cáo Đào Tiến T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331; Khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án; đại diện của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa án,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN - Viện kiểm sát nhân dân TP Hạ Long - CA, CQCSĐT, THAHS Công an TP Hạ Long, TT C tỉnh QN - Chi cục thi hành án dân sự TP Hạ Long - Bị cáo, đại diện bị hại, người liên quan, THA - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ đ k Lê Hồng Ninh |