- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đoàn Hoàng N - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Đoàn Hoàng N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 309/2024/HSST Ngày: 23-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:
Ông Nguyễn Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Mai.
2. Bà Châu Thị Lệ.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệp – Thư ký Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Vũ Kim Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận Gò Vấp, T - Số D đường D, Phường E, quận G, T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 307/2024/HSST ngày 29/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 355/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024, đối với bị cáo:
Trần Đoàn Hoàng N; Sinh năm 2003, tại Quảng Nam; Nơi cư trú: Số C đường L, tổ E, khu phố H, Phường A, quận G, T; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hoàng G và bà Đoàn Thị S; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 07/6/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, T xử phạt 07 năm 03 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị bắt giam từ ngày 06/3/2024 (có mặt).
-Người bào chữa của bị cáo: Ông Nguyễn Văn D-thuộc Đoàn Luật sư T6.
Địa chỉ: Số A tỉnh lộ 8, khu phố B, thị trấn C, huyện C, T.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành T.
Địa chỉ: Số A đường N, Phường G, quận G, T (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 03/3/2023, tại quán C, địa chỉ số D đường số A, Phường A, quận G, T, anh Nguyễn Thành T cùng nhóm bạn gồm Trường L, Nguyễn Hoài N1, Trần Văn T, Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị D1 và Phạm Mai T ngồi uống nước. Lúc này, Nguyễn Anh T đang uống nước ở bàn bên cạnh đi đến bàn của nhóm anh T và nói với anh L là “Địt mẹ mày Trường Lâm cho tao mượn điện thoại” thì bị người trong nhóm anh T chửi lại nên Nguyễn Anh T đi về lại bàn của mình. Nguyễn Anh T kể lại việc mình bị người trong bàn của anh L chửi cho những người đang ngồi trong bàn nghe gồm Trần Đức H, Ngô Quang H1, Trần Đoàn Hoàng N, Nguyễn Tiến N, T5, Quốc B, Gia B1, B2 (chưa rõ lai lịch). Sau đó, Nguyễn Anh T đi đến bàn của anh L dùng tay, chân, ly đánh anh T và Nguyễn Tiến N dùng ly đánh vào đầu anh T. Sau đó, Nguyễn Tiến N gọi điện thoại cho Trịnh Hoài Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59U2-49316 đến chở Nguyễn Tiến N rồi cùng những người trên đến Công viên L, quận G chơi. Trong lúc đang ở công viên, Nguyễn Hoài N1 và Phạm Mai T nhắn tin và gọi điện thoại cho Nguyễn Tiến N (Nguyễn Hoài N1 và Nguyễn Tiến N có quen biết nhau từ trước) nói Nguyễn Tiến N dùng ly đánh anh T làm ly vỡ văng trúng Phạm Mai T gây chảy máu và hẹn Nguyễn Tiến N gặp để đánh nhau nhưng Nguyễn Tiến N không trả lời. Sau đó, Trịnh Hoài Đ chở Nguyễn Tiến N đi về, những người còn lại gồm Nguyễn Anh T, Trần Đức H, Ngô Quang H1, Trần Đoàn Hoàng N, T5, Quốc B, Gia B1, Beo về nhà trọ của Trần Đoàn Hoàng N lấy mã tấu để gặp Phạm Mai T giải quyết mâu thuẫn. Nguyễn Anh T gọi điện thoại nói Nguyễn Tiến N quay lại cùng với nhóm đến quán cà phê The N3 gặp Phạm Mai T giải quyết mâu thuẫn. Nguyễn Tiến N nói Trịnh Hoài Đ điều khiển xe chạy đến điểm hẹn gần quán C để gặp nhóm của Nguyễn Anh T. Nguyễn Anh T điều khiển xe Honda Dream biển số 53V5-2781 chở Gia B1; B2 điều khiển xe Honda Vision (không rõ biển số) chở T5; Trần Đoàn Hoàng N điều khiển xe Raider (không rõ biển số) chở Ngô Quang H1; Quốc B điều khiển xe Honda SH mode (không rõ biển số) chở Trần Đức H. Khi đến điểm hẹn, T5, Trần Đoàn Hoàng N, B2 lấy hung khí trong bao mà Trần Đoàn Hoàng N đưa phát cho những người ngồi sau xe mỗi người 01 cây mã tấu, riêng Trần Đức H được phát 01 cây tuýp sắt. Sau đó, cả nhóm đến Quán C, Nguyễn Tiến N cầm cây mã tấu chạy vào quán chém anh T. Thấy Nguyễn Tiến N cầm mã tấu, anh T bỏ chạy và bị té ngã. Anh T bị Nguyễn Tiến N chém 04 nhát vào chân. Cùng lúc này, Ngô Quang H1 cầm mã tấu chạy đến chém 01 nhát vào chân anh T. Sau đó cả nhóm ra xe tẩu thoát. Anh T được bạn đưa đến Bệnh viện A cấp cứu.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã triệu tập Nguyễn Anh T, Nguyễn Tiến N, Trần Đức H và Trịnh Hoài Đ về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Anh T, Nguyễn Tiến N, Trần Đức H và Trịnh Hoài Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên.
Sau khi xảy ra sự việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã đề nghị anh Nguyễn Thành T đi giám định thương tích nhưng anh Nguyễn Thành T từ chối đi giám định thương tích với lý do thương tích anh Nguyễn Thành T đã lành và đã được bồi thường chi phí điều trị thương tích. Anh Nguyễn Thành T đã làm đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và cam kết không thắc mắc, khiếu kiện về sau.
Ngày 14/03/2024, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp đã xét xử Nguyễn Anh T, Nguyễn Tiến N, Trần Đức H và Trịnh Hoài Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 2, Điều 318 của Bộ luật hình sự.
Đối với Trần Đoàn Hoàng N sau khi gây án đã bỏ trốn. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đồng thời ra quyết định truy nã đối với N. Ngày 06/03/2024 bị cáo N bị bắt theo quyết định truy nã.
Tại Cơ quan điều tra Công an quận G, Trần Đoàn Hoàng N đã khai nhận toàn bộ hành phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 274/CT–VKS ngày 09/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp đã truy tố bị cáo Trần Đoàn Hoàng N về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo Trần Đoàn Hoàng N từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp với hình phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự số 144/2024/HSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Tp buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 09 năm 09 tháng đến 10 năm 03 tháng tù.
Về vật chứng của vụ án đã được giải quyết theo bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Tp nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Người bào chữa của bị cáo trình bày ý kiến: Thống nhất về tội danh và điều luật Viện kiểm sát đã truy tố, luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự là bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tuổi đời còn trẻ nhận thức pháp luật, kiểm soát hành vi hạn chế, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đang phải chấp hành hình phạt rất nặng theo bản án của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Tp để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên và không tự bào chữa, không tranh luận, bị cáo đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, thẩm vấn tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đoàn Hoàng N tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện bị cáo Trần Đoàn Hoàng N và các đồng phạm Nguyễn Anh T, Nguyễn Tiến N, Trần Đức H và Trịnh Hoài Đ đã thực hiện hành vi: Vào khoảng 01 giờ 22 phút ngày 04/03/2023, Trần Đoàn Hoàng N cùng với các đồng phạm đã có hành vi dùng mã tấu chém anh Nguyễn Thành T tại quán C, địa chỉ: Số D Đường số A, Phường A, quận G, T, anh Nguyễn Thành T đã từ chối đi giám định thương tích không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với thương tích của anh. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Trong vụ án này bị cáo với vai trò là người cung cấp hung khí cho các đồng phạm. Đủ căn cứ xác định bị cáo Trần Đoàn Hoàng N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây xáo trộn đến sinh hoạt bình thường của người dân, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất hành vi của từng bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
. Đối với hình phạt 07 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự số 144/2024/HSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Tp đã có hiệu lực thi hành chưa được tổng hợp nên Hội đồng xét xử áp dụng tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Hành vi phạm tội theo bản án số 144/2024/HSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi thực hiện sau hành vi phạm tội của vụ án này nên không xác định hình phạt trên là tiền án đối với bị cáo trong vụ án này.
. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho công tác giải quyết của các cơ quan tố tụng và bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khác nên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
. Đối với Nguyễn Anh T, Nguyễn Tiến N, Trần Đức H và Trịnh Hoài Đ. Ngày 14/3/2024 Tòa án nhân dân quận quận Gò Vấp đã đưa vụ án ra xét xử theo bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HSST nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
. Đối với Ngô Quang H1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định truy nã, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
. Đối với các đối tượng T5, Quốc B, Gia B1, Beo, chưa xác định được lai lịch cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đã được giải quyết theo bản án số 50/2024/HSST ngày 14/3/2024 Tòa án nhân dân quận quận Gò Vấp, Tp nên Hội đồng xét xử không xét lại.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 318; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Đoàn Hoàng N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tổng hợp với hình phạt 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 144/2024/HSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Tp, buộc bị cáo Trần Đoàn Hoàng N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2024.
-Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp; - Công an quận Gò Vấp; - Trại giam nơi giam bị cáo; - Cơ quan Thi hành án dân sự quận Gò Vấp; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP, HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Anh Đức |