vanban.org

Bản án 309/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ánh T.

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Võ Thị Ánh T và ông Mai Văn T1 là vợ chồng. Về nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ánh T.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 309/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27 – 12 – 2024
V/v Không công nhận quan hệ vợ chồng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Công Thức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Lin;

Bà Trần Thị Đổi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1195/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Ánh T, sinh năm 1972

Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Mai Văn T1, sinh năm 1972

Địa chỉ: Số C khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Bà T và ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/10/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Võ Thị Ánh T trình bày: Bà và ông Mai Văn T1 chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, chung sống không hạnh phúc. Bà và ông T1 đã không còn chung sống với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Mai Văn T1.

Về con chung: Quá trình chung sống, bà và ông T1 có 02 con chung là Mai Võ Phi T2, sinh năm 1996 và Mai Võ Phi T3, sinh năm 2001. Khi ly hôn, các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản: Bà T xác định bà ông T1 không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T xác định bà ông T1 không có nợ ai.

Tại bản tự khai ngày 17/12/2024, bị đơn ông Mai Văn T1 trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của bà T về thời gian chung sống và tình trạng hôn nhân, ông và bà T đã ly thân với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Qua yêu cầu khởi kiện của bà T thì ông T1 đồng ý.

Về nuôi con chung: Ông T1 xác nhận có 02 con chung như lời của bà T đã trình bày. Khi ly hôn ông T1 không yêu cầu giải quyết.

Về chia tài sản: Ông T1 xác định ông và bà T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông T1 xác định ông và bà H không có nợ ai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Võ Thị Ánh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Mai Văn T1. Ông T1 hiện đang cư trú tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

. Nguyên đơn là bà Võ Thị Ánh T và bị đơn ông Mai Văn T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.

. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Võ Thị Ánh T:

Về hôn nhân: Xét thấy, bà Võ Thị Ánh T và ông Mai Văn T1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1996, đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống thì bà T và ông T1 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên T và ông T1 không còn sống chung với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Xét thấy, bà T và ông T1 sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1996 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Mặt khác, theo quy định tại điểm b khoản 3 Nghị Quyết 35/2000/QH1009/6/2000 của Quốc hội thì quan hệ hôn nhân của bà T và ông T1 không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận bà T và ông T1 là vợ chồng.

Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống bà T và ông T1 có 02 con chung tên là Mai Võ Phi T2, sinh năm 1996 và Mai Võ Phi T3, sinh năm 2001. Do các con chung đã trưởng thành nên bà T và ông T1 thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản chung: Bà Võ Thị Ánh T và ông Mai Văn T1 thống nhất xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Võ Thị Ánh T và ông Mai Văn T1 thống nhất xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc bà Võ Thị Ánh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm b khoản 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ánh T.

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Võ Thị Ánh T và ông Mai Văn T1 là vợ chồng.

2. Về nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.

3. Về chia tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Buộc bà Võ Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà Nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005797 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông T1 không phải chịu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ