vanban.org

Bản án 309/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 309/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29/8/2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Hăng;

2. Ông Nguyễn Thế Hùng;

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 375/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 387/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Quốc Đ, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.

(Ông Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bà N vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/02/2023 cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Lê Quốc Đ trình bày: Quan hệ hôn nhân giữa ông và bà N tự tìm hiểu nhau, được hai bên gia đình đồng ý tiến hành tổ chức đám cưới vào năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 01/10/2007. Thời gian đầu vợ chồng sống tương đối hạnh phúc, nhưng đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, sống không họp nhau, thường xuyên gây cãi, không có tiếng nói chung. Dến năm 2010, bà N bỏ về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Ông và bà N ly thân từ năm 2010 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành. Nay, ông yêu cầu được ly hôn với bà N.

Về con chung: Trong quá trình chung sống ông và N có 01 con chung tên Lê Minh D, sinh ngày 01/8/2006. Hiện nay cháu D đang sống với ông. Khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi dạy, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N không có mặt theo các văn bản triệu tập của Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến; bà N cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú của bà N thì xác định bà N vẫn còn đăng ký trường trú tại ấp V, xã V huyện A, tỉnh An Giang chưa chuyển đi nơi khác.

Theo biên bản ghi nhận lời khai người thân của ông Đ và bà N trình bày phù hợp với lời trình bày của ông Đại, hiện ông Đ và bà N không còn sống chung với nhau từ năm 2010 đến nay.

Tại phiên tòa, ông Đ vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng bà N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn về hôn nhân và con chung có căn cứ nên đề nghị chấp nhận. Đối với tài sản chung, nợ chung ông Suôn vắng mặt nếu sau này ông Suôn chứng minh về tài sản chung, nợ chung thì sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà N, đồng thời bà N cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.

Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Ông Đ vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bà N được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của ông Đ xin ly hôn với bà N, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa ông bà đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, đều này phù hợp với các biên bản làm việc với người cho ý kiến mà Tòa án thu thập được. Xét thấy mâu thuẫn giữa ông Đ và bà N đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Ông Đ, bà N có 01 con chung Lê Minh D, sinh ngày 01/8/2006. Hiện nay cháu Duy đang được ông Đ nuôi dạy. Ông Đ yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, từ trước nay cháu Duy được ông Đ nuôi dạy, tình cảm đã thật sự gắn bó, cháu Duy cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với ông Đ. Do đó, để tránh làm xáo trộn về mặt tâm lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông Đ tiếp tục nuôi dạy con chung là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng: Ông Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của ông Đ.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Đ xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[6] Về nợ chung: Ông Đ không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Ông Đ là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Suôn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Lê Quốc Đ.

Về hôn nhân: Ông Lê Quốc Đ được ly hôn với bà Trần Thị Mỹ N.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn quyển số 116 ngày 01/10/2007của Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Ông Lê Quốc Đ được tiếp tục nuôi dạy con chung Lê Minh D, sinh ngày 01/8/2006

Ông Đ cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Bên không trực tiếp nuôi con, không được lợi dụng quyền thăm con hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà gây ảnh hưởng đến việc nuôi dạy con của bên trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Ông Đ phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008111 ngày 15/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. (ông Đ đã nộp đủ).

Bà N không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án tuyên vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống Đ bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết ông Đ và bà N được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 (7a, 7b) và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ