vanban.org

Bản án 309/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 30/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 (một) thẻ sim điện thoại Viettel 01 (một) thẻ ATM số 9704 0799 7017 7071 của Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam (Techcombank) phát hành, mang tên “HOANG XUAN HIEP”. Tình trạng theo Biên bản giao … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Xuân H “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẠ LONG
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 309/2022/HS-ST
Ngày 30 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Giới và ông Nguyễn Đăng Cường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Hà, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Quang Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 237/2022/TLST–HS ngày 02 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Hoàng Xuân H; sinh ngày 17 tháng 11 năm 1985, tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; giới tính: nam; nơi cư trú: tổ 15, khu 4, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): cử nhân kinh tế; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Phú H và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấmđi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; hiện đang tại ngoại; có mặt.

* Các Bị hại:

1) Chị Quách Thị L, sinh ngày 24/5/1983; nơi cư trú: thôn Đồng Vàng, xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; vắng mặt;

2) Chị Ngô Thị L, sinh ngày 28/10/1976; nơi thường trú: tổ 14, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: tổ 3, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái; vắng mặt;

3) Chị Trần Thị Bích D, sinh ngày 18/9/1989; nơi thường trú: tổ dân phố số 5, thị trấn An Dương, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: số nhà 496 Quốc lộ 20, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt;

4) Chị Nguyễn Thị V, sinh ngày 02/4/1988; nơi cư trú: Thôn Chi Nhị, xã Song Giang, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt;

5) Chị Trần Thị Tuyết N, sinh ngày 29/11/1989; nơi thường trú: thôn Đình Tràng, xã Lam Hạ, huyện Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; nơi ở hiện tại: số nhà 26 A20, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; vắng mặt;

6) Chị Lã Thị C, sinh ngày 12/7/1976; nơi cư trú: khu 3, xã Lương Lỗ, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt;

7) Chị Phạm Thị Thu T, sinh ngày 20/01/1996; nơi thường trú: số nhà 330 Lạch Tray, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số 14 Quán Nam, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

8) Chị Cao ThịT, sinh ngày 16/6/1993; nơi cư trú: Thôn Hải Hòa, xã Hải Long, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt;

9) Chị Lò Thị C, sinh ngày 26/11/1994; nơi cư trú: thôn Tây An, xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; vắng mặt;

10) Chị Đặng Thị T, sinh ngày 10/10/2003; nơi thường trú: thôn Phú Hải 3, xã Phú Nhuận, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; nơi ở hiện tại: ngõ 67 đường Hàm Nghi, phường Kim Tân, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; vắng mặt;

11) Chị Bùi Thị Thu Q, sinh năm 1993; nơi thường trú: xóm Ân Thái, xã Nam Hồng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định; vắng mặt;

12) Chị Nguyễn Thị N, sinh ngày 07/8/1995; nơi cư trú: khu Bạch Xá, phường Hoàng Đông, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; vắng mặt;

13) Anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 08/10/1991; nơi thường trú: thôn Trân Tảo, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: thôn Hàn Lạc, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966; nơi cư trú: tổ 15, khu 4, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Những người làm chứng:

1) Anh Đặng Quang V, sinh năm 1993; nơi cư trú: số 19/59/292 Lạch Tray, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

2) Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1975; nơi cư trú: tổ 14, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2021 đến tháng 01/2022, Hoàng Xuân H dùng mạng xã hội “Facebook” để kinh doanh bán hàng thực phẩmđông lạnh. Đến cuối tháng 01/2022, Hiệp không kinh doanh bán hàng do dịch bệnh nên việc kinh doanh bị thua lỗ dẫn đến nợ nhiều người. H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người có nhu cầu mua hàng thực phẩmđông lạnh để trả nợ. Hiệp dùng tài khoản “Facebook” của mình có tên “Thực Phẩm Nhà Hàng” để tìm kiếm những người đang có nhu cầu cần mua hàng. Sau đó, Hiệp gọiđiện hoặc liên hệ với những người muốn mua hàng qua tài khoản “Facebook” hoặc “Zalo”, H nóidốilà có bán các mặt hàng họ cần mua, yêu cầu họ chuyển tiền mua hàng qua tài khoản ngân hàng rồi chiếm đoạt tiền. Trong khoảng thời gian từ ngày 07/02/2022 đến ngày 18/3/2022, tại quán Internet “HA LONG BROS” thuộc tổ 5, khu 4A, phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long H đã chiếm đoạt tiền của 13 người với tổng số tiền là 41.255.000đ (bốn mươi mốt triệu hai trăm năm mươi năm nghìn đồng), cụ thể như sau:

Lần thứ 1: Ngày 07/02/2022, chị Nguyễn Thị V (năm sinh và địa chỉ nêu trên) làm nghề kinh doanh buôn bán sửdụng mạng xã hội “Facebook” vớitài khoản cá nhân “Vui Thanh” liên hệ với tài khoản “Thực Phẩm Nhà Hàng” của Hoàng Xuân H hỏi mua một số thực phẩm đậu hũ phô mai, cánh gà, trứng gà với tổng số tiền hàng là 7.000.000 đồng.Hđồng ý bán hàng và yêu cầu chị V chuyển số tiền trên đến tài khoản ngân hàng của H. Khoảng 14 giờ 51 phút cùng ngày, chị V chuyển khoản số tiền 7.000.000đ (bẩy triệu đồng) từ tài khoản của anh H số 101870343026 mở tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) đến tài khoản số 19037400322017 của Hiệp mở tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Nhưng sau khi chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên chịV biết mình đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 2: Ngày 25/02/2022, chị Đặng Thị T (năm sinh và địa chỉ nêu trên) sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “t” tìm mua chân gà ủ muối để sử dụng. Chị T tìm thấy tài khoản “Thực Phẩm Nhà Hàng” của Hoàng Xuân H tự nhận là chủ cơ sở cung cấp thực phẩm tại Hạ Long bán mặt hàng trên, nên đã nhắn tin hỏi mua chân gà ủ muối. Sau đó, chị T thỏa thuận và đồng ý mua 10 suất gà ủ muối với số tiền hàng là 550.000 đồng. H yêu cầu chị T chuyển khoản trước số tiền này đến tài khoản số 030063228989 của H mở tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank). Cùng ngày, chị T tin tưởng nên đã chuyển khoản số tiền 550.000đ (năm trăm năm mươi nghìn đồng) từ tài khoản của chị T số 1022157117 mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đến tài khoản của H. Nhưng sau khi chuyển tiền, chị T không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 3: Khoảng tháng 02/2022 chị Cao Thị T(năm sinh và địa chỉ nêu trên) làm nghề kinh doanh buôn bán sửdụng mạng xã hội “Facebook” vớitài khoản cá nhân “B” đăng bài viết tìmmua hải sản, thực phẩm ở Quảng Ninh. Ngày 25/02/2022, H sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân là “Thực Phẩm Nhà Hàng” chủ động kết bạn và nhắn tin với chị T giới thiệu bán các mặt hàng của Quảng Ninh gồm: Hải sản, bò mỹ, chân gà rút xương. Sau đó, chịT thỏa thuận đồng ý mua các mặt hàng của H gồm một số thực phẩmnhư cánh gà, chân gà, mực, bạch tuộc, chân giò và một số mặt hàng khác với tổng số tiền hàng là 5.980.000đ (năm triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng). H yêu cầu chị T chuyển khoản số tiền này đến tài khoản số 030063228989 của H mở tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank). Ngày 26/02/2022, chị T 02 lần chuyển khoản số tiền 3.480.000 đồng và 2.500.000 đồng từ tài khoản của chị T số 2800215015706 mở tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đến tài khoản của H. Nhưng sau khi chuyển tiền, chị T không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 4: Ngày 27/02/2022, chị Lò Thị C (năm sinh và địa chỉ nêu trên) làm nghề kinh doanh tạp hóa sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “CC” đăng bài viết tìm mua hàng đông lạnh. Khoảng 20 giờ cùng ngày, H gọi điện cho chị C nói có các mặt hàng theo yêu cầu của chị C. Sau đó, chị C đã thỏa thuận mua của H số hàng gồm: 20 kg râu mực với giá 80.000 đồng/kg; 10 kg cá nục gai với giá 40.000 đồng/kg; 10 kg mực chã với giá 55.000 đồng/kg; 30 khay chim cút (mỗi khay tương đương là 01 kg) với giá 32.000 đồng/khay. Tổng số tiền hàng là 3.510.000 đồng, H bớt 75.000 đồng tiền cước vận chuyển xe hàng cho chị C, còn lại phải thanh toán tiền hàng là 3.435.000 đồng. H yêu cầu chị C chuyển khoản số tiền này đến tài khoản số 19037400322017 của H mở tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Ngày 28/02/2022, chị C chuyển khoản số tiền 3.435.000đ (ba triệu bốn trăm ba mươi năm nghìn đồng) từ tài khoản của chị C số 7802199499999 mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đến tài khoản của Hiệp. Nhưng sau khi chuyển tiền, chị C không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 5: Ngày 26/02/2022, chị Lã Thị C (năm sinh và địa chỉ nêu trên) làm nghề kinh doanh buôn bán sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “CD” lên mạng xã hội tìm nơi cung cấp thực phẩm tươi sống, để mua về bán. Chị C thấy tài khoản “Thực Phẩm Nhà Hàng” của Hoàng Xuân H đăng nội dung rao bán thực phẩm, nên đã liên hệ để mua thực phẩm là thịt tươi sống. Ngày 04/3/2022, chị C đã thỏa thuận với H và đồng ý mua 10 Kg thịt vụn (thịt bò), 10 kg tim bò với tổng số tiền hàng là 1.060.000 đồng. H yêu cầu chị C chuyển khoản trước số tiền này đến tài khoản số 19037400322017 của H, mở tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Cùng ngày, chị C đã chuyển khoản số tiền 1.060.000đ (một triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) từ tài khoản của chị C số 101870493581 mở tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Viettinbank) đến tài khoản của H. Nhưng sau khi chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 6: Ngày 05/3/2022, chị Bùi Thị Thu Q (năm sinh và địa chỉ nêu trên) sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “T” nhắn tin với tài khoản “Thực Phẩm Nhà Hàng” của Hoàng Xuân H hỏi mua 30 khay chim cút. Hiệp đồng ý thỏa thuận bán cho chị Q với giá tiền hàng là 910.000 đồng và yêu cầu chị Q chuyển trước số tiền này đến tài khoản số 030063228989 của H mở tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank). Cùng ngày, chị Q đã chuyển khoản số tiền 910.000đ (chín trăm mười nghìn đồng) từ tài khoản của chị Qu số 030076548079 mở tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank) đến tài khoản của H. Nhưng sau khi chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 7: Khoảng 19 giờ ngày 06/3/2022, chị Phạm Thị Thu T (năm sinh và địa chỉ nêu trên) sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “t” để tìm mua thực phẩm qua mạng. Chị T thấy tài khoản “Thực Phẩm Nhà Hàng” của Hoàng Xuân H đăng nội dung rao bán thực phẩm, nên đã liên hệ để mua chân vịt. Cùng ngày, chị T đã thỏa thuận với H và đồng ý mua 03kg chân vịt với tổng số tiền hàng là 210.000 đồng. H yêu cầu chị T chuyển khoản trước số tiền này đến tài khoản số số 030063228989 của H mở tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank). Sau đó, chị T đã nhờ anh họ là Đặng Quang V, sinh năm 1993, địa chỉ: số 19/59/292 Lạch Tray, phường Kênh Dương, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng chuyển khoản số tiền 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng) từ tài khoản của anh V số 0031000318508 mở tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đến tài khoản của H. Nhưng sau chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 8: Ngày 06/3/2022, chịQuách ThịL (năm sinh và địa chỉ nêu trên) làm nghề kinh doanh tự do sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “Q” để tìmmua hàng thực phẩmđông lạnh. Qua mạng xã hội “Facebook”,chịL thấy tài khoản "Facebook” của H có tên “Thực Phẩm Nhà Hàng” đăng bài bán các mặt hàng thực phẩmđông lạnh mà chị L cần mua, nên đã liên hệ với H. H đồng ý bán các mặt hàng thực phẩmđông lạnh cho chị L, gồm: 20kg chân giò rút xương với giá 900.000 đồng; 10kg vó bò với giá 520.000 đồng; 2kg mực khô a5 với giá 780.000 đồng; 10kg chân gà rút xương với giá 450.000 đồng; 20kg cánh gà khúc giữa loại 1 giá 800.000 đồng; 10kg khay cánh gà khúc giữa loại 2 giá 300.000 đồng; 5kg ba chỉ bò mỹ giá 750.000 đồng; 10kg xúc xích CP giá 600.000 đồng. Ngoài ra, H giảm cho chị L 50.000 đồng, tổng số tiền chị Liên phải thanh toán cho Hiệp là 5.050.000 đồng. Ngày 07/3/2022, chị Lđã chuyển khoản số tiền 4.250.000 đồng từ tài khoản của chị L số 8820116216007 mở tại Ngân hàng TMCP Quân đội Việt Nam (MB Bank) đến tài khoản ngân hàng số 030063228989 của H mở tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank). Chị L cũng nhờ người chuyển tiếp số tiền 800.000 đồng vào tài khoản ngân hàng số 030063228989 của H. Tổng cộng số tiền hàng chị L đã chuyển cho Hiệp là 5.050.000đ (năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Nhưng sau chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếmđoạt số tiền trên.

Lần thứ 9: Chị Trần Thị Tuyết N (năm sinh và địa chỉ nêu trên) kinh doanh cửa hàng ăn tại phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Ngày 06/3/2022, chị N sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “U” tìm mua mặt hàng gà ác. Qua mạng xã hội “Facebook”, chị Ngân thấy tài khoản "Facebook” của H có tên “Thực PhẩmNhà Hàng” đăng bài bán gà ác nên hỏi mua. Sau đó, chị N thỏa thuận mua của H 30 túi gà ác (một túi gồm 02 con gà ác đã được làm sạch, khối lượng mỗi túi gà khoảng 800gram) có giá 67.000 đồng, tổng số tiền mua hàng là 2.010.000 đồng. H yêu cầu chị N phải đặt cọc trước 1.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nhận hàng chị N sẽ thanh toán sau. Ngày 07/3/2022, chị N đã chuyển khoản số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) từ tài khoản của chị N số 19035445354014 mở tại ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) đến tài khoản số 19037400322017 của H mở tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Nhưng sau chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên chị biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 10: Anh Nguyễn Văn T (năm sinh và địa chỉ nêu trên) làm nghề kinh doanh tự do, có nhu cầu mua gà ác để bán. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/3/2022, anh T thông qua mạng xã hội “Facebook” đã đăng bài viết trên nhóm “Chuyên trứng gà ác, gà ác…” để tìm mua gà ác. Khoảng 00 giờ 57 phút cùng ngày, H sử dụng tài khoản Facebook tên “Thực Phẩm Nhà Hàng” nhắn tin cho anh T và nói đang có gà ác muốn bán. Anh T thỏa thuận mua của H 30 túi gà ác (một túi gồm 02 con gà ác đã được làm sạch, khối lượng mỗi túi gà khoảng 800 gram) có giá 67.000 đồng, tổng số tiền mua hàng là 2.010.000 đồng. Hiệp yêu cầu anh Tchuyển tiền mua hàng trước cho H, rồi H sẽ chuyển hàng đến sau. Khoảng 09 giờ 21 phút cùng ngày, anh T đã chuyển khoản số tiền 2.010.000đ (hai triệu không trăm mười nghìn đồng) từ tài khoản của anh T số 888808101991 mở tại ngân hàng TMCP Quân đội Việt Nam (MB Bank) đến tài khoản số 030063228989 của H mở tại ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank). Nhưng sau chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 11: Chị Nguyễn Thị N (năm sinh và địa chỉ nêu trên) làm nghề kinh doanh sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “N” đăng bài trên “Facebook” để tìm mua trứng gà ác để kinh doanh. Khoảng 19 giờ 09 phút ngày 08/3/2022, H sử dụng tài khoản Facebook tên “Thực Phẩm Nhà Hàng” nhắn tin cho chị N và nói đang có trứng gà ác muốn bán. Chị N tin tưởng đã thỏa thuận mua 5.000 quả trứng gà ác của H với giá tiền là 7.250.000 đồng. Trong khoảng thời gian từ ngày 08/3/2022 đến ngày 10/3/2022, chị Nhâm đã chuyển khoản nhiều lần tổng số tiền 7.250.000đ (bẩy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) từ tài khoản của chị N số 106001170868 mở tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank) đến tài khoản số 19037400322017 của H mở tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Nhưng sau chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên chị biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 12: Chị Trần Thị Bích D (năm sinh và địa chỉ nêu trên) hiện đang kinh doanh hàng ăn ở tại số 496 quốc lộ 20, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 15/3/2022, chị D có nhu cầu mua bề bề đông lạnh để bán, nên đã sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “S” tìm hiểu và được biết tài khoản tên “Thực Phẩm Nhà Hàng” của Hoàng Xuân H có đăng bài bán bề bề đông lạnh. Chị D đã liên hệ qua ứng dụng “Zalo” của H và thỏa thuận mua của H 50kg bề bề đông lạnh đã bóc sẵn vỏ với giá tiền 210.000 đồng/kg, tổng số tiền hàng phải thanh toán là 10.500.000 đồng. H yêu cầu chị D chuyển khoản trước số tiền trên đến tài khoản số 19037400322017 của Hi mở tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Tuy nhiên, chị D thỏa thuận chỉ chuyển khoản trước số tiền 3.000.000 đồng cho H, số tiền hàng còn lại chị D sẽ chuyển đủ cho H sau khi nhận được hàng, H đồng ý. Cùng ngày, chị D đã chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) từ tài khoản định danh số 0902095678 (tài khoản thanh toán số 02001013719808) của chị D mở tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) đến tài khoản của H. Nhưng sau khi chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Lần thứ 13: Ngày 18/3/2022, chị Ngô Thị L (năm sinh và địa chỉ nêu trên) có nhu cầu mua bề bề đông lạnh để bán hàng ăn sáng, nên đã sử dụng mạng xã hội “Facebook” với tài khoản cá nhân “G” đăng tin tìm mua bề bề. Cùng ngày, Hoàng Xuân H đã sử dụng mạng xã hội “Facebook” tài khoản cá nhân “Thực Phẩm Nhà Hàng” nói có bề bề bán và gửi bảng giá bề bề qua ứng dụng “Zalo” cho chị L. Chị L đồng ý và thỏa thuận với H mua 15 kg bề bề, với giá tiền là 260.000 đồng/kg. H yêu cầu chị L thanh toán trước số tiền 3.800.000 đồng, chuyển đến tài khoản số 19037400322017 của H mở tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank).ChịL đã nhờ chồng là anh Hoàng Văn C 02 lần chuyển khoản tổng số tiền 3.800.000đ (ba triệu tám trăm nghìn đồng) từ tài khoản của anh C số 8701205028283 mở tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đến tài khoản của H. Nhưng sau khi chuyển tiền mà không nhận được hàng, nên biết đã bị H lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên.

Quá trình điều tra, các anh chịNguyễn Thị V, Đặng Thị T, Cao ThịT, Lò Thị C, Lã Thị C, Bùi Thị Thu Q, Phạm Thị Thu T, Quách Thị L, Trần Thị Tuyết N, Nguyễn Thị N, Trần Thị Bích Di, Ngô Thị L và anh Nguyễn Văn T không quen biết H, thông qua mạng xã hội “Face book” do tin tưởng H có hàng bán, nên đã chuyển tiền mua hàng thực phẩm đông lạnh cho H. Tuy nhiên, sau khi chuyển tiền, không thấy H chuyển hàng về, nên mọi người mới biết bị H lừa đảo chiếmđoạt tiền nên đã trình báo với cơ quan Công an.

Giai đoạn điều tra, bị cáo Hoàng Xuân H đã hoàn trả toàn bộ số tiền cho các bị hại để khắc phục hậu quả. Các bịhại đã nhận đủ tiền bồi thường và không có yêu cầu gì. Một số bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Xuân H thừa nhận hành vi phạmtội như đã nêu trên. Nguyên nhân lừa tiền mọi người là do dịch bệnh làm ăn thua lỗ, nợ nhiều người nên đã lừa tiền của người này trả cho người khác. H tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA Model TA-1034, màu đen, số IMEI1 356542068049981, đã qua sử dụng; bên trong điện thoại có lắp 01 thẻ sim điện thoại Viettel số 0985.314.388; 01 thẻ ATM số 9704 0799 7017 7071 mở tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank), mang tên “HOANG XUAN HIEP”. Bị cáo thừa nhận việc truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt theo Cáo trạng là đúng người, đúng tội, không oan, sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T khai: Bà là mẹ đẻ của bị cáo, khi biết con mình đã lừa đảo, chiếm đoạt tiền của người khác, bà đã bỏ tiền ra cho con trả lại cho những người bị hại. Bà không yêu cầu con phải hoàn trả lại tiền cho mình.

Giai đoạn điều tra, anh Đặng Quang V khai: Anh là anh họ của chị Phạm Thị Thu T. Khi chị T nhờ anh chuyển tiền mua hàng của bị cáo, anh đã chuyển tiền từ tài khoản của mình đến tài khoản của bị cáo. Chị T đã trả lại cho anh số tiền trên, nên anh không có yêu cầu gì. Anh Hoàng Văn C khai: Anh là chồng của chị Ngô Thị L. Khi chị L bảo anh chuyển tiền mua hàng đến tài khoản của bị cáo thì anh đã thực hiện. Đây là tiền chung của hai vợ chồng. Anh chị đã nhận được tiền của bị cáo nên không có yêu cầu gì.

Tại bản Cáo trạng số: 236/CT-VKSHL ngày 26 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị Hoàng Xuân Hi về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 174, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân H từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 (một) thẻ sim điện thoại Viettel 01 (một) thẻ ATM số 9704 0799 7017 7071 của Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam (Techcombank) phát hành, mang tên “HOANG XUAN HIEP”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về Tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hạ Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội phạm:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng về thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với vật chứng đã thu giữ là dữ liệu điện tử, tài liệu giao dịch chuyển tiền qua các tài khoản của các ngân hàng thương mại, cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 07/02/2022 đến ngày 18/3/2022, tại quán Internet “HA LONG BROS” thuộc tổ 5, khu 4A, phường Hồng Hải, thành phố Hạ Long Hoàng Xuân H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người có nhu cầu mua hàng thực phẩmđông lạnh qua mạng xã hội “Facebook” để lấy tiền chi tiêu cá nhân. H đã dùng thủ đoạn gian đối nói mình có hàng để bán và yêu cầu những người mua hàng chuyển tiền vào tài khoản 19037400322017 tại ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam Chi nhánh Quảng Ninh và Ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín Chi nhánh Quảng Ninh của H để chiếm đoạt. H đã chiếm đoạt tiền của 13 người mua hàng là các chịNguyễn Thị V số tiền 7.000.000 đồng, Đặng ThịT số tiền 550.000 đồng, Cao ThịT số tiền 5.980.000 đồng,Lò ThịC số tiền 3.435.000 đồng, Lã Thị C số tiền 1.060.000 đồng, Bùi Thị Thu Q số tiền 910.000 đồng, Phạm Thị Thu T số tiền 210.000 đồng, Quách ThịL số tiền 5.050.000 đồng, Trần ThịTuyết N số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Thị N số tiền 7.250.000 đồng, Trần Thị Bích D số tiền 3.000.000 đồng, Ngô Thị L số tiền 3.800.000 đồng và anh Nguyễn Văn T số tiền 2.010.000 đồng. Tổng số tiền H chiếm đoạt là 41.255.000đ (bốn mươi mốt triệu hai trăm năm mươi năm nghìn đồng).

Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”...

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tính chất liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các hành vi phạm tội với tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt theo hướng dẫn tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao. Trong tổng số 13 lần bị cáo lừa đảo các bị hại ở các địa phương khác nhau, vào khoảng thời gian khác nhau thì có 08 lần bị cáo lừa đảo chiếm đoạt với số tiền hơn 2.000.000 đồng, mỗi lần có đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạmtội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo là có cơ sở pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc cho các bị hại, ảnh hưởng xấu đến lòng tin của người khác trong giao dịch thương mại điện tử hiện nay, làm mất trật tự, trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.

Bị cáo Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, được bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.

Về hình phạt:

Đối với hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, có 01 tình tiết tăng nặng và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả về tài sản của tội phạm đã được khắc phục. Tuy nhiên, theo khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩmphán Tòa án nhân dân tối cao quy định những trường hợp không cho hưởng án treo là “Người phạm tội nhiều lần”, nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tình chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, số tiền đã chiếm đoạt và nhân thân của bị cáo, không những để trừng trị mà còn để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, phòng ngừa chung cho xã hội, đáp ứng được mục đích của hình phạt.

Đối với hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, phạm tội do hám lợi nhưng sau khi phạm tội đã hoàn trả lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về vật chứng: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen, gắn 01 (một) thẻ sim điện thoại Viettel và 01 (một) thẻ ATM thu giữ của bị cáo là công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị, cần tịch thu và tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 174, các điểm b, i và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, các điểm a và c Điều 106, các khoản 1 và 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các khoản 1 và 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân H 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 (một) thẻ sim điện thoại Viettel 01 (một) thẻ ATM số 9704 0799 7017 7071 của Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam (Techcombank) phát hành, mang tên “HOANG XUAN HIEP”. Tình trạng theo Biên bản giao vật chứng số: 41/BB-THA ngày 23 tháng 11 năm 2022 giữa Công an thành phố Hạ Long và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

3. Buộc bị cáo Hoàng Xuân H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ