- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Nhật M phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật s…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 309/2021/HS-PT Ngày 30-11-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sâm.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Triết và ông Nguyễn Văn Bằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 299/2021/TLPT-HS ngày 09 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo Võ Nhật M về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2021/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2021, của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Võ Nhật M, sinh năm 1959, tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn 16, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Nhật N và bà Trần Thị Go (đều đã chết), bị cáo có vợ là Phạm Thị N, sinh năm 1961 và 05 con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị X – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
* Người bị hại: Ông Dương Xuân C; địa chỉ: Xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ, ngày 30/7/2019, Võ Nhật M đi làm rẫy về nhà. Trên đường đi, tay phải M cầm một con dao dài 48cm, cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 34cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 5,2cm, mũi dao bằng; tay trái cầm một cây gậy gỗ dài 1,07 mét, đường kính 04cm. Khi M đi ngang qua nhà anh Dương Xuân C, thì thấy gia đình anh C có đông người đang nói chuyện, nên M đi qua đi lại trước cổng nhà anh C nhiều lần, đồng thời chửi gia đình anh C là “Việt gian, phản quốc”. Nghe M nói như vậy, anh C đi ra cổng và nói với M “muổn chửi thì về nhà ông mà chửi”, rồi hai bên chửi nhau qua lại. Minh dùng gậy gỗ đánh vào tay phải anh C 02 cái, anh C chụp được gậy rồi giằng co gậy với M, M dùng dao chém về phía anh C, anh C né tránh nhưng trúng vào tai trái và vùng cổ bên trái của anh C gây thương tích. Bị chém, anh C nhặt bóng đèn tip có tại hiện trường, đuổi đánh M, nhưng M vứt gậy tại hiện trường rồi cầm dao chạy về nhà. Anh C được người thân, đưa đi điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa V.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1022/TgT-TTPY ngày 26/8/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận tỷ lệ thương tích anh Dương Xuân C:
“Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 19% (mười chín phần trăm);
Vật tác động và cơ chế hình thành thương tích: Tổn thương do tác động trực tiếp của vật sắc gây nên có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, từ trước ra sau”.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 130/KLGĐTC, ngày 22/10/2019 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nguyên, kết luận pháp y tâm thần Võ Nhật M:
“ 1.1. Kết luận về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện tại đối tượng bị bệnh: Tâm thần phân liệt thể paranoid (F20.0-ICD10), giai đoạn bệnh thuyên giảm.
1.2 Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi gây án và hiện tại đối tượng: Hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.
2. Ỷ kiến khác: Áp dụng biện pháp điều trị bắt buộc ”.
Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian điều trị bắt buộc số: 205/KLBB-VPYTW ngày 19/3/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa kết luận đối với Võ Nhật M như sau:
“2. Kết luận:
- Bị bệnh: Tâm thần phân liệt thể paranoid (F20.0 - ICD.10).
- Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật”.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 24/2021/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2021, của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào điểm đ, khoản 2, Điều 134; điểm b, s và q khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Võ Nhật M phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Võ Nhật M 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, được tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 08/9/2021, bị cáo Võ Nhật M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc bởi lẽ sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bồi thường thường thiệt hại, người bị hại có đơn xin bãi nại, bị cáo là người bị bệnh tâm thần phân liệt thể paranoid nên bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển về hành vi. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357, Điều 54 BLHS chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Nhật M, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin về hình phạt. Tuyên phạt bị cáo Võ Nhật M từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
* Người bào chữa cho bị cáo Võ Nhật M trình bày: Đồng ý với quan điểm của luật sư áp dụng Điều 54 BLHS, bị cáo có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo, bởi lẽ Trước, trong và sau khi phạm tội, bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Sau khi phạm tội, bị cáo và gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo thuộc hộ nghèo, có con bị tàn tật, bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo áp dụng điểm p, s, q khoản 1 , 2 Điều 51, Điều 54, khaonr 2 Điều 134 BLHS, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm toà là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác nên vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 30/7/2019, Võ Nhật M đã có hành vi dùng gậy đánh và dùng dao chém anh Dương Xuân C gây thương tích với tỷ lệ 19%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Mức hình phạt 02 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ bị cáo tập hợp nhiều tình tiếp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thường thiệt hại và được người bị hại làm đơn xin bãi nại; bị cáo là người bị bệnh tâm thần phân liệt thể paranoid nên bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển về hành vi; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ nghèo, có con bị tàn tật; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, không chấp nhận bị cáo xin hưởng án treo.
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo là hộ cận nghèo có xác nhận của chính quyền địa phương nên được miễn nộp án phí hình sự phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Nhật M;
- Sửa bản án sơ hình sự thẩm số 24/2021/HSST ngày 26 tháng 8 năm 2021, của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk về hình phạt.
[2] Về Điều luật và hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s và q khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Võ Nhật M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cao bị bắt thi hành án.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo được miễn nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản); - VP CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Trại tạm giam CA tỉnh Đắk Lắk; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Cư Kuin; - VKSND huyện Cư Kuin; - Chi cục THADS huyện C; - Công an huyện Cư Kuin; - Bị cáo; - Bị hại; - Người bào chữa; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Ngọc Sâm |