vanban.org

Bản án 308/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Phan Thái T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thái T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Phan Thái T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 308/2024/HSST
Ngày 23-12-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Nguyễn Anh Đức. Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Võ Thị Mai.

2. Bà Châu Thị Lệ .

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Diệp–Thư ký Toà án nhân dân quận

Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh tham gia

phiên toà: Bà Quách Diệp Nguyệt Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân quận Gò Vấp,

Tp . - Số D đường D, Phường E, quận G, Tp . xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 320/2024/HSST ngày 18/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 356/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024 đối với bị cáo:

Phan Thái T, Sinh năm 1985, tại Tp .; Thường trú: Ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh

Vĩnh Long; Nơi cư trú: Số B đường N, Phường C, quận G, Tp .; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn C và bà Trần Ngọc T1; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

-Năm 2009 bị Công an P, quận G, Tp . áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai

nghiện bắt buộc, ngày 30/12/2012 chấp hành xong.

-Ngày 06/6/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai áp

dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bị bắt giam từ ngày 14/6/2024 (có mặt).

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Ngọc T1 (có mặt).

Địa chỉ: Số B đường N, Phường C, quận G, Tp ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 18 giờ 08 phút ngày 14/6/2024, Tổ tuần tra Hình sự đặc nhiệm Công an

quận G tuần tra đến địa chỉ số D đường N, phường C, quận G, Tp . phát hiện Phan Thái T đang ngồi trên xe mô tô biển số: 59UA-028.91 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Tại thời điểm kiểm tra, phát hiện trong ngăn phía trước ba lô của T có 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng (T khai nhận là ma tuý loại Heroin) do T mới mua của đối tượng tên V (không rõ lai lịch) ở Quận H, Tp . với giá 200.000 đồng để sử dụng. Tổ công tác của Công an quận G tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong 02 gói nylon và đưa T về trụ sở Công an P1, quận G để làm rõ và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiến hành khám xét khẩn khám xét chỗ ở của T tại đia chỉ số 215 đường N,

Phường C, quận G, Tp . thu giữ 02 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, đã qua sử dụng; 01 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, chưa qua sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 7280/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an T3 kết luận: 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng, đã được niêm phong thành một gói, bên ngoài có chữ ký ghi tên Phan Thái T và hình dấu Công an P1, quận G là ma tuý ở thể rắn có có tổng khối lượng là 0,5279 gam loại Heroin.

Vật chứng thu giữ :

-Mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định: Bột màu trắng có khối lượng 0,4445g được niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra là ma tuý còn lại sau giám định.

-01 ba lô màu đen–trắng (không rõ nhãn hiệu), Cơ quan điều tra đã trả lại cho T.

-01 xe mô tô BKS: 59UA-028.91.

-02 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, đã qua sử dụng; 01 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, chưa qua sử dụng.

-01 điện thoại di động hiệu N sử dụng sim số: 0934320850 đã tắt nguồn không khởi động được là tài sản của T sử dụng vào viêc phạm tội.

Tại Cơ quan điều tra, Công an quận G, Tp . bị cáo Phan Thái T đã khai nhận

hành vi phạm tội như nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 391/CT-VKS-GV ngày 14/11/2024 của Viện Kiểm sát

nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Phan Thái T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp . vẫn giữ

nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thái T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đề nghị xử lý vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa chất bột màu trắng là ma túy, đã

được Phòng PC09, Công an T3 giám định và niêm phong; 02 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, đã qua sử dụng; 01 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, chưa qua sử dụng.

-Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu nokia sử dụng sim số: 0934320850 đã tắt nguồn không khởi động được là tài sản của T sử dụng vào viêc phạm tội.

-Đối với 01 xe mô tô BKS: 59UA-028.91 đề nghị giao Cơ quan Thi hành án

dân sự quận G tiếp tục đăng tìm chủ sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt

như trên và không tự bào chữa, không tranh luận, bị cáo đã thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp ., Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Thái T tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện bị cáo đã thực hiện hành vi: Lúc 18 giờ 08 phút ngày 14/6/2024 tại trước nhà địa chỉ số D đường N, Phường C, quận G Tp . bị cáo Phan Thái T đã có hành vi tàng trữ ma tuý ở thể rắn có khối lượng 0,5279 gam loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Đủ cơ sở xác định bị cáo Phan Thái T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp . đối với bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm

đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, ma túy còn là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật rất nghiêm nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên đã bất chấp, cố ý phạm tội, nhân thân bị cáo đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học cải tại bản thân mà vẫn phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5, Điều 249 của Bộ luật Hình sự, xét thấy hoàn cảnh của bị cáo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Đối với đối tượng tên V bán ma túy cho Phan Thái T, do chưa xác định

được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, nếu xác định đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

. Về xử lý vật chứng:

. Đối với 01 gói niêm phong chứa chất bột màu trắng là ma túy, đã được

Phòng PC09, Công an T3 giám định và niêm phong; 02 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, đã qua sử dụng, là ma túy vật Nhà nước cấm sử dụng lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

. Đối với 01 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, chưa qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

. Đối với 01 điện thoại di động hiệu nokia sử dụng sim số: 0934320850 đã tắt nguồn không khởi động được là tài sản của T sử dụng vào viêc phạm tội. Là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Đối với 01 xe mô tô BKS: 59UA-028.91, số máy: RPYKB10KA020989, số khung: RPYKB10KA020989 xe T sử dụng đi mua ma tuý, qua xác minh xe do anh Nguyễn Trương Minh Đ đứng tên chủ sở hữu. Bà Trần Ngọc T1 (mẹ ruột của Phan Thái T) khai mua xe có Hợp đồng mua bán tại Cửa hàng mua bán xe, địa chỉ: số F đường H, Phường A, quận P, Tp ., bà T1 cho T mượn xe đi lại. Ông Ngô Minh T2 là giám đốc Công ty TNHH cho biết công ty có ký giấy tay “HỢP ĐỒNG MUA BÁN XE” ngày 11/7/2022 với bà T1 về việc mua bán chiếc xe máy BKS: 59UA-028.21 hiện không còn lưu hồ sơ. Anh Đ cho biết có mua chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại, đến năm 2022 thì anh Đ đã bán chiếc xe trên bằng giấy tờ tay cho một cửa hàng mua bán xe cũ (không nhớ địa chỉ). Cơ quan điều tra đã giám định số khung, số máy của xe trên, kết quả xe mô tô trên không bị đục lại số khung và số máy. Xét thấy, giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng tìm chủ sở hữu hợp pháp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn trên nếu tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại theo quy định, nếu không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

. Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

-Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Thái T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.

-Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

+Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong chứa chất bột màu trắng là ma túy, đã

được Phòng PC09, Công an T3 giám định và niêm phong; 02 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, đã qua sử dụng; 01 ống tiêm BBRAUN omnican 1 ml, chưa qua sử dụng.

+Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu nokia sử dụng sim số: 0934320850 đã tắt nguồn không khởi động được.

+Giao Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 xe mô tô BKS: 59UA-028.91, số máy: RPYKB10KA020989, số khung: RPYKB10KA020989 trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn trên nếu tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại theo quy định, nếu không tìm được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.

(Theo các Phiếu nhập kho vật chứng số 169/PNK ngày 25/7/2024, số 198/PNK ngày 15/8/2024, số 305/PNK ngày 12/11/2024 của Công an quận G, Tp .).

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ