vanban.org

Bản án 308/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/03/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê M đối với bà Đỗ Thị Quỳnh N:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê M ly hôn bà Đỗ Thị Quỳnh N. Giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 21/01/2020 do Ủy ban nhân dân quận TB, Thành phố H, Việt Nam cấp cho ông Lê M và bà Đỗ Thị Quỳnh N không còn giá trị pháp lý khi từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê M đối với bà Đỗ Thị Quỳnh N:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 308/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17/3/2023.
V/v Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trịnh Minh Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Thanh;

Ông Trần Văn Triều.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 17/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân dân Thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 675/2022/TLST-HNGĐ ngày 21/12/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 795/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê M, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 1235/50 đường HS, Phường X, quận TB, Thành phố H.

- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Quỳnh N, sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú tại nước Hoa Kỳ: 4250 Gypsy Pops Dr, Pasadena, TX 77503, USA (Hoa Kỳ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, ông Lê M trình bày:

Ông Lê M và bà Đỗ Thị Quỳnh N tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận TB, Thành phố H, Việt Nam, theo giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 21/01/2020.

Sau khi kết hôn, bà Đỗ Thị Quỳnh N trở về nước Hoa Kỳ (USA) sinh sống và làm việc, ông Lê M sinh sống tại Việt Nam, vợ chồng không chung sống với nhau. Do khoảng cách về địa lý và vợ chồng không có tiếng nói chung, chưa có tình yêu thật sự, khác nhau về cách nhìn nhận sự việc, không có sự tha thứ khi bước vào hôn nhân, việc đăng ký kết hôn nhằm mục đích bổ sung giấy tờ bảo lãnh sang nước Hoa Kỳ (USA) và điều kiện kinh tế không đảm bảo vấn đề tài chính cho việc sinh sống tại nước Hoa Kỳ (USA). Từ đó, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nghiêm trọng. Nhận thấy hôn nhân giữa vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, ông Lê M yêu cầu được ly hôn với bà Đỗ Thị Quỳnh N.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn bà Đỗ Thị Quỳnh N trình bày:

Tại bản khai đã được hợp pháp hóa lãnh sự ngày 22/02/2023, bà Đỗ Thị Quỳnh N thừa nhận quan hệ hôn nhân, việc đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung, mâu thuẫn vợ chồng như ông Lê M trình bày. Bà Đỗ Thị Quỳnh N đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Lê M; về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Đỗ Thị Quỳnh N trình bày không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông Lê M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà Đỗ Thị Quỳnh N đang cư trú tại nước Hoa Kỳ (USA) không thể tham gia phiên tòa xét xử vụ án hôn nhân gia đình theo đơn khởi kiện của ông Lê M tại Việt Nam, bà Đỗ Thị Quỳnh N yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố H, Việt Nam xét xử vắng mặt bà Đỗ Thị Quỳnh N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê M yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Đỗ Thị Quỳnh N, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn theo yêu cầu của một bên” theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà Đỗ Thị Quỳnh N đang cư trú tại nước Hoa Kỳ (USA) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân Thành phố H, Việt Nam theo quy định tại Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét sự vắng mặt của nguyên đơn ông Lê M, bị đơn bà Đỗ Thị Quỳnh N tại phiên tòa sơ thẩm:

Ông Lê M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà Đỗ Thị Quỳnh N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đã được hợp pháp hóa lãnh sự. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông Lê M và bà Đỗ Thị Quỳnh N theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê M đối với bị đơn bà Đỗ Thị Quỳnh N, xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 21/01/2020 do Ủy ban nhân dân quận TB, Thành phố H, Việt Nam cấp cho ông Lê M và bà Đỗ Thị Quỳnh N; có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa ông Lê M và bà Đỗ Thị Quỳnh N là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ông Lê M yêu cầu ly hôn bà Đỗ Thị Quỳnh N với lý do sau khi kết hôn, bà Đỗ Thị Quỳnh N trở về nước Hoa Kỳ (USA) sinh sống và làm việc, ông Lê M sinh sống tại Việt Nam, vợ chồng không chung sống với nhau. Do khoảng cách về địa lý và vợ chồng không có tiếng nói chung, chưa có tình yêu thật sự, khác nhau về cách nhìn nhận sự việc, không có sự tha thứ khi bước vào hôn nhân, việc đăng ký kết hôn nhằm mục đích bổ sung giấy tờ bảo lãnh sang nước Hoa Kỳ (USA) và điều kiện kinh tế không đảm bảo vấn đề tài chính cho việc sinh sống tại nước Hoa Kỳ (USA). Từ đó, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nghiêm trọng. Đối với bà Đỗ Thị Quỳnh N cũng thừa nhận trình bày của ông Lê M là đúng và đồng ý ly hôn ông Lê M. Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa ông Lê M và bà Đỗ Thị Quỳnh N không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; điều kiện sống mỗi người mỗi nơi không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê M ly hôn bà Đỗ Thị Quỳnh N theo quy định tại Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Ông Lê M và bà Đỗ Thị Quỳnh N xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lê M phải chịu theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 2 Điều 38, Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280, Khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê M đối với bà Đỗ Thị Quỳnh N:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê M ly hôn bà Đỗ Thị Quỳnh N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 21/01/2020 do Ủy ban nhân dân quận TB, Thành phố H, Việt Nam cấp cho ông Lê M và bà Đỗ Thị Quỳnh N không còn giá trị pháp lý khi từ ngày Bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Lê M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003732 ngày 16/12/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H, Việt Nam.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về quyền kháng cáo Bản án:

Ông Lê M vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Bà Đỗ Thị Quỳnh N vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ