- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Ngọc Y về tranh chấp ly hôn Phan Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Ngọc Y đối với ông Phan Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 308/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 11 - 2022 V/v “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tho.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lý Văn Hùng;
2. Bà Nguyễn Thị Rạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Ngày 14 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 888/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 343/2022/QĐXX-ST ngày 27/10/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Y, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Y trình bày:
Bà Y và ông Phan Văn Đ xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 26/4/2002. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Vợ chồng chung sống nhưng ông Đ không nghe lời góp ý, khuyên nhủ của bà, tự quyết trong công việc, dẫn đến làm ăn thua lỗ, gây nợ nần, phải bỏ nhà đi gần 02 năm đến nay mới trở về. Năm 2021, bà đã từng nộp đơn ly hôn nhưng sau đó bà rút đơn để cho ông Đ cơ hội sửa chữa nhưng ông Đ không thay đổi, vợ chồng không thể hàn gắn nên bà khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 01 con chung tên Phan Trọng Tr, sinh ngày 04/02/1999. Hiện con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Phan Văn Đ trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà Y về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn. Ông thừa nhận trong công việc ông thường xuyên thua lỗ, gây nợ nần, phải bỏ địa phương đi. Năm 2021, bà Y đã nộp đơn ly hôn và cũng đã rút đơn để cho ông cơ hội cải sữa nhưng vợ chồng vẫn không thể hàn gắn. Tuy nhiên, ông không đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Y vì ông còn thương vợ và muốn tiếp tục chung sống.
Về con chung: Qúa trình chung sống, ông bà có 01 con chung tên Phan Trọng Tr, sinh ngày 04/02/1999. Hiện con đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Ngọc Y nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Phan Văn Đ có địa chỉ cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Y có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, căn cứ vào Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Y và ông Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 26/4/2002 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ phần trình bày của bà Y về mâu thuẫn của vợ chồng không thể hàn gắn, hiện không còn sống chung, không quan tâm lo lắng cho nhau, bà Y vẫn giữ yêu cầu ly hôn, ông Đ không đồng ý nhưng không đưa ra được biện pháp hàn gắn quan hệ hôn nhân. Mặt khác, bà Y đã từng nộp đơn khởi kiện ly hôn vào năm 2021 nhưng sau đó rút đơn khởi kiện và cho ông Đ cơ hội sửa chữa nhưng ông Đ không thay đổi.
Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Y và ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Ngọc Y.
Về con chung: Đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có.
Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 18, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Ngọc Y đối với ông Phan Văn Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Y được ly hôn với ông Phan Văn Đ.
Về con chung: Đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có.
Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc Y phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000081 ngày 04/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Bà Y đã nộp xong.
Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Ngọc Y và ông Phan Văn Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Đ (để ghi vào sổ hộ tịch); - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Tho |