- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 308/2019/HNGĐ_ST Ngày: 22/11/2019 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Minh Nhựt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Thìn – Cán bộ hưu trí
2. Bà Trần Thị Hồng Ngọc – Cán bộ Hội liên hiệp phụ nữ phường Tam Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại Hội trường 06 – Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1709/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 289/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim C, sinh năm 1990;
Địa chỉ: K2/84B1, KP1, P.Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Anh Trƣơng Khánh L, sinh năm 1988;
Địa chỉ: K2/84B1, KP1, P.Bửu Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
(Chị Nguyễn Kim C xin vắng mặt; anh L vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Kim C trình bày: Trên cơ sở tự nguyện và sau thời gian tìm hiểu, năm 2013 chị C cùng anh Trương Khánh L tự nguyện kết hôn. Ngày 25/3/2013, UBND phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 18/2013, quyển số I/2013 cho chị và anh L. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do các bên bất đồng trong quan điểm sống thường xảy ra xung đột và không còn tôn trọng lẫn nhau. Dù các bên đã tìm cách giải quyết, muốn hàn gắn đoàn tụ nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay chị C xác định không còn tình cảm với anh L, mục đích hôn nhân không đạt được vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trương Khánh L1, sinh ngày 06/4/2015. Khi ly hôn chị C đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung khi ly hôn chị C xác định là không có, nợ chung của vợ chồng sau khi ly hôn cũng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tuy nhiên anh Trương Khánh L không thực hiện các nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến của anh L về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:
Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết:
- Nguyên đơn chị Nguyễn Kim C khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Khánh L đối chiếu Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị C là nguyên đơn, anh L là bị đơn trong vụ án.
- Anh L có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn chị C có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh L đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đến tham dự phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, không có lý do; căn cứ khoản 01, điểm b khoản 02 Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
3. Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim C và anh Trương Khánh L tự nguyện kết hôn và có làm thủ tục đăng ký kết hôn. Ngày 25/3/2013, UBND phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 18/2013, quyển số I/2013, đối chiếu các điều 9, 11 và 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 xác định quan hệ hôn nhân giữa hai người là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị C xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng hòa giải đoàn tụ. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, chị đề nghị ly hôn với anh L. Theo kết quả xác minh tại địa phương thì địa phương xác định không nắm được tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị C và anh L. Tuy nhiên, chị C khẳng định, nay chị không còn tình cảm với anh L và chị cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh L không đến Tòa án làm việc, không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn, cũng như không có ý kiến gì, từ đó cho thấy anh L đã bỏ mặc việc Tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân giữa hai người. Từ những phân tích trên cho thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh L đã phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị C là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: Chị C và anh L có 01 con chung là cháu Trương Khánh L1, sinh ngày 06/4/2015, chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu L1 còn nhỏ, hơn nữa là bé gái nên cần sự trực tiếp nuôi dưỡng của mẹ, nên việc giao cháu L1 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, đảm bảo cho sự phát triển của trẻ. Do chị C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh L tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn, chị C xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do không có ý kiến của anh L nên không thể xác thực về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng, do đó các đương sự được quyền khởi kiện đối với phần này bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Kim C phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 68, khoản 4 Điều 147; 227, 266 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 09, 11, 12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000.
Áp dụng các điều 51, 56, 71, 81, 82, 83, 84, khoản 01 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyên Kim C đối với bị đơn anh Trương Khánh L về việc tranh chấp ly hôn.
Tuyên xử:
Chị Nguyễn Kim C, sinh năm 1990 được ly hôn với anh Trương Khánh L, sinh năm 1988.
Về con chung: Giao con chung là Trương Khánh L1, sinh ngày 06/4/2015 cho chị Nguyễn Kim C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trương Khánh L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp cần thiết một trong các bên có quyền xin thay đổi quyền trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng khi ly hôn các đương sự được quyền khởi kiện bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Về án phí: Chị Nguyên Kim C phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0008932 ngày 24/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Chị C đã nộp đủ án phí theo quy định.
Chị C và anh L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
Trần Thị Hồng Ngọc – Trƣơng Thị Thìn
Đỗ Minh Nhựt
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND Tp. Biên Hòa; - Chi cục THADS Tp.Biên Hòa; - UBND P.Bửu Hòa; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Nhựt |