vanban.org

Bản án 308/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 26/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016

quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Ngọc T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 308/2018/HSST

Ngày: 26/11/2018

QUẬN HOÀNG MAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hoa Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiên Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận - Kiểm sát viên. Ngày 26 tháng 11 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 343/2018/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 346/2018/HSST- QĐ ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo: Lưu Ngọc T, sinh năm 1974, tại Nam Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phú Thịnh, Nam Hồng, Nam Trực, Nam Định; Nơi ở: Không cố định; Nghề ngiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn T và bà Nguyễn Thị N; Tiền án: Bản án số 228/2010/HSST ngày 08/4/2010, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” (chưa xóa án tích), tiền sự: Không; Bắt tạm giam ngày 02/9/2018; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Hà Nội; Có mặt. -Bị hại:Anh Trần Đ, sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú: 109 Trần Huy Liệu, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: 6B/178/663 Trương Định, phường T, quận H, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 02 giờ ngày 02/9/2018, tổ công tác công an phường Thịnh Liệt trong khi làm nhiệm vụ kiểm tra hành chính tuần tra đêm tại khu vực cầu Ba Đô, tổ 34 phường Thịnh Liệt đã phát hiện Lưu Ngọc T có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra hành chính người và phương tiện phát hiện trên giỏ xe đạp có 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus màu đen. Tại chỗ Lưu Ngọc T khai nhận đó là tài sản T trộm cắp được tại số nhà 6B/178/663 Trương Định. Tổ công tác đã đưa T về trụ sở để điều tra làm rõ. Quá trình điều tra, Lưu Ngọc T đã khai nhận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 02/9/2018, T đi bộ lang thang với mục đích xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà trọ số 6B/178/663 Trương Định, T phát hiện cửa nhà không khóa nên T lẻn vào tầng 1 thấy có 10 chiếc xe đạp, T liền dắt ra ngoài đường để. Sau đó T quay lại nhà đi lên tầng 2 phát hiện thấy 01 chiếc máy tính xách tay để trên đệm dưới sàn nhà, T liền lấy máy tính cùng cục sạc nguồn rồi mang ra đường để máy tính lên giỏ xe đạp mang đi tiêu thụ nhưng đi đến khu vực cầu Ba Đô thuộc tổ 34 phường Thịnh Liệt thì bị phát hiện bắt giữ. Cơ quan công an đã thu giữ của T: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus E420S màu đen; 01 cục nguồn nhãn hiệu Asus; 01 chiếc xe đạp màu bạc trên khung có chữ “ Power”; 01 điện thoại di động nhãn hiệu kiểu dáng Iphone màu đen, có số Imei: 0135900003935256 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có số Imei: 356317/05/235148/1. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 153/HĐĐG ngày 05/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND quận Hoàng Mai kết luận: 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus E420S màu đen, kích thước khoảng 15inch đã qua sử dụng có giá trị 450.000 đồng; 01 chiếc xe đạp màu bạc trên khung có chữ “Power” đã qua sử dụng có giá trị 3.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản T trộm cắp là: 3.850.000 đồng. Quá trình điều tra đã xác định được chủ sở hữu tài sản là anh Trần Đ. Ngày 20/9/2018 Công an quận Hoàng Mai đã trao trả anh Đ những tài sản bị mất trộm. Anh Đ không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Bản cáo trạng số 340/CT-VKS ngày 08/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội: Truy tố Lưu Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa: Bị cáo Lưu Ngọc T giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân quận Hoàng Mai truy tố là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã xác định: Hành vi phạm tội của Lưu Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sủa đổi, bổ sung năm 2017. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng

Mai kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo T có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Từ những phân tích nêu trên Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: - Xử phạt bị cáo Lưu Ngọc T từ 10 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2018. - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. - Về tang vật: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu kiểu dáng Iphone màu đen, có số Imei: 0135900003935256 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có số Imei: 356317/05/235148/1 không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. Bị cáo Lưu Ngọc T không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lưu Ngọc T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Lưu Ngọc T tại phiên tòa với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngµy 02/9/2018, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu không khóa cửa nhà, Lưu Ngọc T đã có hành vi lén lút vào nhà số 6B/178/663 Trương Định trộm cắp của anh Trần Đ 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus E420S màu đen, kích thước khoảng 15inch đã qua sử dụng có giá trị 450.000 đồng; 01 chiếc xe đạp màu bạc trên khung có chữ “Power” đã qua sử dụng có giá trị 3.400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là: 3.850.000 đồng. Đối chiếu với quy định của pháp luật, hµnh vi cña bÞ c¸o ®ñ yÕu tè cÊu thµnh téi “Trộm cắp tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai

đề nghị truy tố xét xử bị cáo Lưu Ngọc T theo quy ®Þnh tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy, hành vi phạm tội của bị cáo không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc. [3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu Ngọc T có 01 tiền án tại Bản án số 228/2010/HSST ngày 08/4/2010, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa xóa án tích do bị cáo chưa nộp khoản tiền 950.000 đồng án phí dân sự và 4.500.000 đồng khoản tiền truy nộp sung công nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm và bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. [4]. Về nhân thân: Bị cáo Lưu Ngọc T có nhân thân xấu, đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhưng bị cáo không chịu sửa đổi, làm ăn lương thiện mà vẫn tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản của người khác nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc. [5]. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật, rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. [6]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [7] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Đ đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xét. [8] Về tang vật: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu kiểu dáng Iphone màu đen, có số Imei: 0135900003935256 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có số Imei: 356317/05/235148/1 thu giữ của bị cáo qua xác minh không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án. [9]. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục I Danh mục án phí lệ phí Tòa án: Bị cáo Lưu Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết: 1. Xử phạt bị cáo Lưu Ngọc T 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/9/2018. 2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. 3. Trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không xét. 4. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lưu Ngọc T 01 điện thoại di động nhãn hiệu kiểu dáng Iphone màu đen, có số Imei: 0135900003935256 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có số Imei: 356317/05/235148/1 nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án (Hiện các vật chứng trên đang lưu giữ tại kho tang vật Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo phiếu nhập kho số 00032 ngày 13/11/2018). 5. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Lưu Ngọc T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Cỡ chữ