- Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất giữa ông Lâm Văn P với bà Lâm Thị E, ông Nguyễn Văn C1"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Lâm Th E1, bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 674 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 308/2018/DS-PT Ngày 08-11-2018 V/v Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Tặng
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Văn h ng
Bà Nguyễn Huỳnh Th H ng Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Th H ng Linh-Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trang-Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2018/TL T-DS ngày 19 tháng 4 năm 2018 về việc: “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự s thẩm số: 11/2018/DS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố C b kháng cáo và kháng ngh .
Theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 334A/2018/QĐ-PT ngày 15 tháng 10 năm 2018 giữa các đ ng sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Văn P, sinh năm: 1948;
Đ a chỉ: Số x, tổ x, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
- Bị đơn:
1. Bà Lâm Th E, sinh năm: 1952;
2. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm: 1950;
Cùng đ a chỉ: Tổ x, khóm x, ph ờng x, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
Ng ời đại diện hợp pháp của bà E, ông C1: Anh Lê Minh T1, sinh năm: 1977; Đ a chỉ: Số x, đ ờng N, ph ờng A, quận B, thành phố Cần Th . Là ng ời đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 11/5/2018).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lâm Th E1, sinh năm: 1949;
Đ a chỉ: Số x, tổ x, ấp Đ, xã T, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
Ng ời đại diện hợp pháp của bà E1: Ch Lê Ngọc H, sinh năm: 1985; Đ a chỉ: x, đ ờng số x, KDC xx, ph ờng P1, quận C2, thành phố Cần Th (Văn bản ủy quyền ngày 30/7/2018).
2. Anh Lâm Trung T2, sinh năm: 1984;
Đ a chỉ: Tổ x, khóm x, ph ờng x, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
3. Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
Ng ời đại diện theo pháp luật: Ông han Văn T3-Chủ t ch.
Đ a chỉ: Số x, đ ờng x, h ờng x, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
4. Ch L u Th Trà M, sinh năm: 1983;
5. Lâm Kỳ A1, sinh năm: 2014;
6. Lâm Kỳ N1, sinh năm: 2012;
Ng ời đại diện hợp pháp của Lâm Kỳ A1 và Lâm Kỳ N1: Anh Lâm Trung T2 là ng ời đại diện theo pháp luật (cha ruột).
Cùng đ a chỉ: Tổ x, khóm x, ph ờng x, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
7. Anh Võ M1, sinh năm: 1991.
Đ a chỉ: Số x, ấp G, xã B1, huyện T4, tỉnh Đ ng Tháp.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn C1, bà Lâm Th E là b đ n, bà Lâm Th E1 là ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện tr ởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
Ông P, anh T1, ch H, anh T2 có mặt tại phiên tòa. Ủy ban nhân dân thành phố C và anh M1 có đ n xin xét xử v ng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ông Lâm Văn P trình bày:
Ngu n gốc phần đất tranh chấp là của cụ ông Lâm Văn C3 (chết 12/2006) và cụ Võ Th H1 (chết 11/2004) là cha, m của nguyên, b đ n diện tích khoảng 9.500m2, trên đất có 11 ngôi mộ.
- Năm 1978 Nhà n c vận động gia đình hiến 1 phần xây dựng tr ờng học, cũng trong thời gian này bà E xin cụ C3 cất 1 quán bán n c giải khát. Đến năm 1991 thì bà E xin cụ C3 cất nhà, khi Tr ờng Cao đ ng s phạm mở rộng có thu h i một phần đất của cụ C3 (vì đất n m trong quy hoạch nên ch a đ ợc cấp giấy CNQSD đất).
- Hiện nay phần đất chỉ còn lại diện tích 4.376m2.
- Năm 2009 ông P có cất nhà cho con tên Lâm Trung T2 5m x 15m đ ợc sự đ ng ý của bà E.
- Năm 2011 UBND ph ờng cho phép đăng ký và mời ông P đến xác đ nh ranh. Qua bàn bạc trong gia đình thì bà Lâm Th E1 không đ ng ý nhận phần đất này, mà thống nhất giao cho ông P và bà E quản lý. Do ông P là con trai thống nhất giao cho ông P phần đất khu mộ và 1 nền nhà mà ông P cho anh T2 đã sử dụng tr c đây, phần còn lại giao cho bà E.
- Năm 2013 ông P và bà E tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến năm 2014 thì ông P nhận giấy CNQSD đất. Khi nhận giấy thì ông P phát hiện ông P chỉ đ ợc cấp 1.086,5m2 thửa 713 không đúng thỏa thuận, còn bà E đ ợc cấp 3.290m2.
Nay ông P yêu cầu bà E giao thêm 606,7m2 phần đất khu mộ và 73,1m2 đất nền nhà và yêu cầu hủy 1 phần giấy CNQSD đất cấp cho bà E.
Bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 trình bày:
Thống nhất về ngu n gốc đất nh ông P trình bày, năm 2011 ông P kê khai phần đất tranh chấp UBND ph ờng không đ ng ý cho ông P đăng ký, vì phần đất tranh chấp do bà E1 và ông C1 đang quản lý sử dụng.
Do không muốn mất tình cảm của ch , em nên bà E, ông P và bà E1 thống nhất thỏa thuận. hần bà E1 nh ờng quyền thừa kế của mình để lại cho bà E và ông P. Đến năm 2016 bà E và ông P thống nhất về việc chia đất và xác đ nh ranh. Sau đó Cán bộ phòng Tài nguyên và Môi tr ờng phối hợp v i UBND ph ờng x tiến hành đo đạc có sự chứng kiến của ông P. Đến ngày 30/9/2013 bà E và ông C1 đ ợc cấp giấy CNQSD đất diện tích 3.090m2 và ông P đ ợc cấp giấy CNQSD ngày 25/12/2015 diện tích 1.086,5m2.
Bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 không đ ng ý chia thừa kế theo yêu cầu của ông Lâm Văn P.
Bà Lâm Th E yêu cầu hộ anh Lâm Trung T2 di dời nhà trả lại cho bà diện tích đất đang ở là 34.4 m2.
- Anh Lâm Trung T2 và ch L u Th Trà M trình bày:
Vợ ch ng anh ch về cất nhà trên phần đất tranh chấp vào năm 2009. Lúc về cất nhà thì phía gia đình bà E kêu anh về cất nhà ở để buôn bán. Hiện tại nhà anh cất theo kiểu cấp 04, cất tạm không có bản vẽ hay giấy phép xây dựng. Đối v i việc hai bên tranh chấp thì anh thống nhất theo ý kiến của ông Lâm Văn P là cha của anh. Đối v i yêu cầu của bà Lâm Th E thì anh không đ ng ý.
- Anh Võ M1 Trình bày:
Anh M1 đang thuê nhà của bà Lâm Th E từ tháng 4 năm 2016, v i hình thức thuê nhà trả tiền theo tháng thông qua hợp đ ng thuê nhà giữa bà E và anh M1. Hiện nay anh M1 đang sống một mình trong căn nhà đang thuê này. Đối v i các vấn đề tranh chấp của các bên thì anh M1 không biết, không có ý kiến hoặc yêu cầu gì trong vụ án này. Tr ờng hợp diện tích đất có căn nhà mà anh đang thuê đ ợc xử cho ai thì anh cũng không có ý kiến, nếu chủ sử dụng đất cho anh tiếp tục thuê để ở trọ thì anh tiếp tục thuê nhà, còn không đ ng ý tiếp tục cho thuê thì anh M1 sẽ tự chuyển đi, không tranh chấp v i chủ sử dụng.
Tại Quyết đ nh bản án dân sự s thẩm số: 11/2018/DS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố C đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Lâm Văn P. Ông P đ ợc chia thừa kế tài sản của ông Lâm Văn C3 và bà Võ Th H1 nh sau:
+ hần đất cây lâu năm từ các mốc M5-M10-M5 diện tích 606,7m2 thuộc thửa 69 tờ bản đ số 5.
+ hần đất nền nhà từ các mốc M1A-M1B-H-K-M1-M1A diện tích 73,1m2 thuộc thửa 69 tờ bản đ số 5.
Bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 có nghĩa vụ giao cho ông Lâm Văn P đ ợc sở hữu số cây cối và tài sản có trên đất đ ợc h ởng nh sau: Chuối 09 bụi; Mãng cầu xiêm 01 cây; Trứng cá 01 cây; 04 cây Xoài 06 năm tuổi đang cho trái; 01 căn nhà của bà Lâm Th E cất trên đất cho anh Võ M1 thuê có kết cấu: nền cuốn bản đô, lót gạch tàu, vách tole sóng tròn, lợp tole sóng vuông, khung gỗ tạp, diện tích 31,5m2 (7m x 4,5m).
Ông Lâm Văn P đ ng ý b i th ờng giá tr tổng cộng giá tr cho bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 số tiền 33.750.000 đ ng (Ba m i ba triệu bảy trăm năm chục ngàn đ ng).
Giao các ngôi mộ tộc họ của ông P và bà E có trên phần đất cho ông P có trách nhiệm quản lý, tu bổ và không đ ợc sang bán phần đất này.
(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định ngày 19-5-2016 và ngày 17-3-2017; Biên bản định giá ngày 07-7-2016; Sơ đồ đo đạc ngày 10-10-2017).
* Về lãi suất chậm trả: Kể từ ngày bản án, quyết đ nh có hiệu lực pháp luật (đối v i các tr ờng hợp c quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết đ nh thi hành án) hoặc kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án (đối v i các khoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải ch u khoản lãi cho số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 diện tích 679,8m2 tại thửa 69 tờ bản đ số 5, đất tọa lạc tại ph ờng x, thành phố C để cấp lại cho ông Lâm Văn P.
- Bác yêu cầu của bà Lâm Th E về việc yêu cầu hộ anh Lâm Trung T2 di dời nhà trả diện tích 34,4m2.
* Về chi phí giám đ nh, xem xét thẩm đ nh và đ nh giá tài sản:
+ Về chi phí giám đ nh 3.440.000 đ ng do kết quả giám đ nh phù hợp v i trình bày của ông Lâm Văn P nên bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 phải ch u. Ông P đã tạm ứng xong nên ông C1 và bà E có nghĩa vụ nộp số tiền 3.440.000 đ ng để trả lại cho ông P.
+ Chi phí thẩm đ nh và đ nh giá tổng cộng là 7.979.000 đ ng. Do yêu cầu chia thừa kế đ ợc chấp nhận nên mỗi bên ch u ½ chi phí này là 3.989.000 đ ng. Số tiền này ông P đã tạm ứng và chi xong. Ông Nguyễn Văn C1 và bà Lâm Th E đã đóng 200.000 đ ng còn lại 3.789.000 đ ng do ông Lâm Văn P tạm ứng nên ông C1 và bà E phải nộp 3.789.000 đ ng để trả lại cho ông Lâm Văn P.
* Về án phí:
+ Ông Lâm Văn P phải ch u 6.356.000 đ ng án phí chia thừa kế và 1.687.500 đ ng án phí b i th ờng tài sản. Ông P đã nộp 1.488.000 đ ng theo biên lai số xxx ngày 10-3-2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C. Ông Lâm Văn P phải nộp tiếp 6.555.500 đ ng tiền án phí dân sự.
+ Bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 phải ch u 321.600 đ ng tiền án phí dân sự khấu trừ số tiền 100.000 đ ng đã nộp tạm ứng theo biên lai số xxxx ngày 27-9-2016, ông C1 và bà E phải nộp tiếp 221.600 đ ng tiền án phí dân sự.
Ngoài ra bản án s thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đ ng sự.
Sau khi xét xử s thẩm, ngày 21/3/2018 bà E, ông C1, bà E1 có đ n kháng cáo yêu cầu hủy bản án s thẩm.
Ngày 21/3/2018 Viện kiểm sát thành phố C có quyết đ nh kháng ngh đề ngh sửa bản án s thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, chấp nhận yêu cầu của bà E và ông C1, buộc hộ anh T2 di dời trả lại đất. Bà E và ông C1 đ ng ý hỗ trợ 5.000.000 đ ng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong h s , đ ợc kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đ ng xét xử nhận đ nh:
Về thủ tục tố tụng: Theo anh Lê Minh T1 ng ời đại diện theo ủy quyền của bà E cho r ng tranh chấp giữa ông P và bà E ch a đ ợc hòa giải c sở. Ông C1 vừa ủy quyền cho bà E và vừa ủy quyền cho anh Nguyễn Trung C3 tham gia tố tụng, nh ng án s thẩm không đ a bà E tham gia tố tụng v i t cách là ng ời đại diện theo ủy quyền là vi phạm thủ tục tố tụng và yêu cầu Hội đ ng xét xử phúc thẩm hủy bản án s thẩm. Xét thấy, Tòa án cấp s thẩm xác đ nh quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp chia thừa kế, nên tranh chấp giữa ông P và bà E không cần thiết phải tiến hành thủ tục hòa giải ở c sở là đúng v i quy đ nh tại quy đ nh tại điểm b, khoản 3, Điều 8 Ngh quyết số 05/2012/NQ-HĐT ngày 03/12/1012 của Hội đ ng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối Cao. Đối v i việc Tòa án cấp s thẩm không đ a bà E tham gia tố tụng v i t cách là ng ời đại diện theo ủy quyền của ông C1 là do có sự thay đổi ng ời đại diện theo ủy quyền của ông C1 là anh Nguyễn Trung C3, nh ng không làm ảnh h ởng đến quyền và nghĩa vụ của các đ ng sự trong vụ án, nên không cần thiết hủy án s thẩm.
Về nội dung: Ngu n gốc phần đất tranh chấp là của cụ Lâm Văn C3 chết 2006 và cụ Võ Th H1 chết năm 2004. Vào khoảng năm 1978 cụ C3 hiến một phần đất cho Nhà n c để xây dựng Tr ờng học cấp 2 và một số hộ dân lấn chiếm, diện tích còn lại 4.376,5m2 (thực tế 4.395m2), cụ C3 và cụ H1 khi còn sống ch a đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo ông P và bà E khai vào khoảng năm 1978, bà E đ ợc cụ C3 cho cất tạm quán trên phần đất của cụ C3 để bán n c giải khát cạnh tr ờng học, năm 1991 bà E và ông C1 xây dựng nhà kiên cố. Sau khi cụ C3 và cụ H1 chết thì bà E và ông C1 quản lý toàn bộ diện tích 4.395m2. Năm 2009 ông P xây dựng nhà cho con là anh Lâm Trung T2 trên phần đất của cụ C3, khi xây dựng đ ợc sự thống nhất của bà E. Bà E không đ ng ý chia thừa kế theo yêu cầu của ông P.
Xét thấy, mặc dù ngày 20/10/2010 bà Lâm Th E và ông P có đ n xin xác nhận có nội dung: hần đất tại ph ờng x, thành phố C đã đ ợc cụ Lâm Văn C3 là cha của ông P, bà E1, bà E cho bà E, đ n xin xác nhận có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã T, thành phố C, nh ng ch a đ ợc thực hiện bởi vì: Theo bà E năm 2011 khi Ủy ban nhân dân cho phép đăng ký quyền sử dụng thì bà E1, ông P và bà E bàn bạc thống nhất bà E1 nh ờng phần của mình, để chia cho hai em là bà Lâm Th E và ông Lâm Văn P. Theo ông P khi thỏa thuận chia phần đất tại ph ờng x thì chia 02 cho ông P và bà E, nh ng khi đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì diện tích đất ông P đ ợc cấp không đúng theo thỏa thuận. Ông P đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 1.086,5m2 thửa 713, còn bà E đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 3.290m2, thửa 69 và thửa 706, nên xảy ra tranh chấp.
Về phía bà E và ông C1 không có chứng cứ chứng minh phần đất tranh chấp đã đ ợc cụ C3 và cụ H1 cho bà E và ông C1, nên diện tích đất 4.395m2 đ ợc xác đ nh là di sản của cụ C3 và cụ H1.
Cụ C3 và cụ H1 chung sống v i nhau có 03 ng ời con là bà Lâm Th E1, bà Lâm Th E và ông Lâm Văn P. Cụ C3 và cụ H1 chết không để lại di chúc nên phần di sản của cụ C3 và cụ H1 đ ợc chia thừa kế theo pháp luật cho các ng ời con mỗi ng ời đ ợc 01 suất thừa kế b ng nhau.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông P yêu cầu đ ợc h ởng 01 suất thừa kế có diện tích 1.465m2 tại v trí ông P đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất khu mộ và 01 nền nhà tại căn nhà của anh T2 và căn nhà của anh Võ M1 thuê có diện tích 73,1m2, ông P thống nhất trừ diện tích 73,1m2 vào suất thừa kế của ông P. Bà E và bà E1 thống nhất giao cho ông P đ ợc h ởng 01 suất thừa kế có diện tích 1.465m2, đối v i suất thừa kế của bà E1, bà E1 nh ờng quyền thừa kế lại cho bà E, nên bà E đ ợc h ởng 02 suất thừa kế có diện tích 2.930m2, nh ng bà E yêu cầu anh T2 di dời căn nhà giao trả phần đất lại cho bà E sử dụng, không đ ng ý giao phần đất và căn nhà của anh Võ M1 thuê cho ông P đ ợc thừa kế.
Xét thấy, ông P, bà E1 và bà E yêu cầu mỗi ng ời đ ợc h ởng 01 suất thừa kế có diện tích 1.465m2, bà E1 nh ờng quyền thừa kế của mình cho bà E, nên bà E đ ợc h ởng 02 suất thừa kế có diện tích 2.930m2. Đây là sự tự nguyện của các đ ng sự phù hợp v i quy đ nh của pháp luật, nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.
Về phần đất ông P yêu cầu đ ợc h ởng thừa kế, theo s đ ngày 14/9/2018, thì phần đất tại căn nhà của anh T2 có diện tích 39,3m2 và anh Võ M1 có diện tích 33,8m2 (tổng diện tích 73,1m2) và toàn bộ phần đất phần đất tranh chấp chiều ngang mặt tr c giáp đ ờng hạm Hữu Lầu là 25,83m, nên mỗi suất thừa kế đ ợc h ởng chiều ngang là 8,61m (25,83m : 3= 8,61m), nh ng phần đất ông P đ ợc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có chiều ngang mặt tr c 5,95m và phần đất tại căn nhà của anh T2 chiều ngang mặt tr c 3,93m, tổng cộng chiều ngang mặt tr c 9,88m, nếu giao phần đất tại căn nhà của anh T2 cho ông P đ ợc h ởng thừa kế thì chiều ngang mặt tr c phần đất của ông P đ ợc h ởng thừa kế thừa 1,27m so v i một suất thừa kế (9,88m-8,61m= 1,27m). Tuy nhiên, về phía anh T2 khi xây dựng nhà năm 2009 trên phần đất tranh chấp có sự đ ng ý của bà E. Phần đất còn lại bà E đ ợc h ởng thừa kế có chiều ngang mặt tr c là 15,95m, thiếu 1,27m so v i 02 suất thừa kế mà bà E đ ợc h ởng, nh ng phần đất bà E đ ợc h ởng thừa kế có một đoạn chiều dài là 30,5m tiếp giáp v i đ ờng nhựa (hẻm công cộng). Vì thế, Hội đ ng xét xử thống nhất chia cho ông P đ ợc thừa kế phần đất có diện tích 39,3m2 tại căn nhà của anh T2. Diện tích phần đất 39,3m2 sẽ đ ợc trừ vào suất thừa kế của ông P.
Đối v i căn nhà của anh Võ M1 đang quản lý, sử dụng là do bà E xây dựng cho anh Võ M1 thuê, ông P yêu cầu đ ợc thừa kế phần đất tại căn nhà của anh Võ M1 có diện tích 33,8m2. Bà E không đ ng ý. Án s thẩm xử buộc bà E và ông C1 giao cho ông P đ ợc quyền sở hữu căn nhà và đ ợc quyền sử dụng phần đất tại căn nhà của anh Võ M1 là ch a phù hợp, nên Hội đ ng xét xử không chấp yêu cầu của ông P yêu cầu đ ợc thừa kế diện tích đất 33,8m2 tại căn nhà của anh Võ M1.
Về diện tích đất P đ ợc h ởng thừa kế 1.465m2, bà E đ ợc h ởng thừa kế diện tích 2.930m2, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông P đ ợc cấp thuộc thửa 713 có chiều ngang mặt sau là 18m, ông P yêu cầu đ ợc h ởng phần đất tại khu mộ. Bà E đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thuộc thửa 706 và thửa 69, phần đất khu mộ có một phần thuộc thửa 69. Tuy nhiên, bà E thống nhất chia cho ông P phần đất khu mộ. Vì vậy, ông P có trách nhiệm giao lại cho bà E một phần thửa 713, để bà E đủ diện tích đất đ ợc h ởng thừa kế là 2.930m2 và bà E có trách nhiệm giao lại cho ông P một phần thửa 69, để ông P đủ diện tích đất đ ợc h ởng thừa kế là 1.465m2.
V i các c sở trên, Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà E1, bà E và ông C1 yêu cầu hủy bản án s thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh rút toàn bộ kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, nên Hội đ ng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C.
Đối v i căn nhà của bà E xây dựng trên phần đất ông P đ ợc h ởng thừa kế, ông P tiếp tục cho bà E ở nhờ, không có tranh chấp, nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ng ời đại diện theo ủy quyền của bà E và ông C1 cho r ng căn nhà bà E cho anh Võ M1 thuê là có công sức đóng góp của các con của bà E, ông C1, nh ng án s thẩm không đ a những ng ời con của bà E tham gia tố tụng mà buộc bà E và ông C1 giao căn nhà của bà E cho anh Võ M1 thuê là thiếu t cách đ ng sự. Xét thấy, cũng nh phần nhận đ nh trên, Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông P yêu cầu đ ợc thừa kế phần đất tại căn nhà của anh Võ M1 thuê, mà quyền sở hữu nhà v n thuộc của bà E và ông C1, nên không cần thiết phải đ a các con bà E và ông C1 tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát Tỉnh, phát biểu việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đ ng xét xử đảm bảo đúng quy đ nh của Bộ luật Tố tụng dân sự, những ng ời tham gia tố tụng chấp hành tốt quy đ nh của pháp luật và đề xuất h ng giải quyết là không chấp nhận kháng cáo của bà E, ông C1 và bà E1, Viện kiểm sát Tỉnh rút toàn bộ kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C. Xét thấy, cũng nh phần nhận đ nh trên đề ngh của Viện kiểm sát là có căn cứ, nên Hội đ ng xét xử chấp nhận đề ngh của Viện kiểm sát.
Từ những c sở trên, Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà E1, bà E, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i kháng ngh của Viện kiểm sát thành phố C, sửa bản án s thẩm.
Các phần còn lại của bản án s thẩm không b kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng ngh .
Do sửa bản án s thẩm nên bà E1, bà E không phải ch u án phí dân sự phúc thẩm theo quy đ nh tại khoản 2, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2, Điều 148; Khoản 2, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 674, 675, 676 Bộ luật Dân sự 2005; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy đ nh về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lâm Th E1, bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối v i kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C.
Sửa Bản án bản án dân sự s thẩm số: 11/2018/DS-ST ngày 09 tháng 3 năm 2018 của Toà án nhân dân thành phố C.
- Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của ông Lâm Văn P. Ông P đ ợc chia thừa kế tài sản của ông Lâm Văn C3 và bà Võ Th H1 nh sau:
+ hần đất tr ng cây lâu năm từ các mốc M2-M3-M4-M6-M11-M10-M5-M2 diện tích 1.425,7m2 thuộc thửa 713 và một phần thửa 69, tờ bản đ số 5.
+ hần đất tại căn nhà của anh Lâm Trung T2 có diện tích 39,3m2 thuộc thửa 69, tờ bản đ số 5, đất tr ng cây lâu năm thể hiện từ các mốc M1-M1A-L-K-M1.
- Buộc bà E và ông C1 có trách nhiệm chia thừa kế cho ông P, thuộc một phần thửa 69, tờ bản đ số 5, đất tr ng cây lâu năm, để ông P đủ diện tích đất đ ợc h ởng thừa kế là 1.465m2. Diện tích đất 1.465m2 đ ợc thể hiện từ các mốc M2-M3-M4-M6-M11-M10-M5-M2 và từ các mốc M1-M1A-L-K-M1.
- Buộc ông P có trách nhiệm chia thừa kế cho bà E, thuộc một phần thửa 713, tờ bản đ số 5, đất tr ng cây lâu năm, để bà E đủ diện tích đất đ ợc h ởng thừa kế là 2.930m2. Diện tích đất 2.930m2 đ ợc thể hiện từ các mốc M2-M5-M10-M11-M8-M9-A-B-C-D-D-E-F-G-H-K-L-M1A.
- Ông Lâm Văn P đ ợc sở hữu các cây tr ng trên diện tích đất 1.425,7m2 g m: 09 bụi chuối; 01 cây mãng cầu xiêm; 04 cây xoài 06 năm tuổi đang cho trái.
- Ông Lâm Văn P b i th ờng giá tr cây tr ng cho bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1, tổng cộng số tiền 4.350.000 đ ng.
- Đề ngh Ủy ban nhân dân thành phố C, thu h i một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i thửa 713, tờ bản đ số 05 của ông Lâm Văn P đ ợc cấp ngày 23/12/2013, để cấp lại cho bà Lâm Th E và thu h i một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i thửa 69, tờ bản đ số 5, của bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 đ ợc cấp ngày 30/9/2013, để cấp lại cho ông Lâm Văn P, đất tọa lạc tại ph ờng x, thành phố C.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Th E về việc yêu cầu hộ anh Lâm Trung T2 di dời nhà trả diện tích 39,3m2.
hần đất và các cây tr ng thể hiện theo biên bản xem xét thẩm đ nh ngày 19/5/2016 và s đ trích đo ngày 14/9/2018 của Trung tâm K thuật Tài nguyên và Môi tr ờng tỉnh Đ ng Tháp.
Kể từ ngày có đ n yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án, mà ng ời phải thi hành án ch a thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng còn phải ch u tiền lãi theo mức lãi b ng 50% mức lãi suất quy đ nh tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự, t ng ứng v i số tiền ch a thi hành, tại thời điểm thi hành án cho đến khi thi hành án xong.
- Về chi phí giám đ nh, xem xét thẩm đ nh và đ nh giá tài sản:
+ Về chi phí giám đ nh 3.440.000 đ ng do kết quả giám đ nh phù hợp v i trình bày của ông Lâm Văn P, nên bà Lâm Th E và Nguyễn Văn C1 phải ch u. Ông P đã tạm ứng xong nên ông C1 và bà E có nghĩa vụ nộp số tiền 3.440.000 đ ng để trả lại cho ông P.
+ Chi phí thẩm đ nh và đ nh giá tổng cộng là 7.979.000 đ ng. Do ông P đ ợc h ởng 1/3 di sản thừa kế, bà E đ ợc h ởng 2/3 di sản thừa kế, nên ông P phải ch u 1/3 chi phí thẩm đ nh, đ nh giá là 2.660.000 đ ng, bà E phải ch u 5.319.000 đ ng. Ông P đã tạm ứng 7.779.000 đ ng, bà E nộp tạm ứng 200.000 đ ng và chi xong, nên bà Lâm Th E có trách nhiệm nộp 5.119.000 đ ng để hoàn trả cho ông P.
* Về án phí:
+ Ông Lâm Văn P phải ch u 3.539.000 đ ng tiền án phí chia thừa kế và 217.500 đ ng tiền án phí b i th ờng tài sản, tổng cộng 3.756.500 đ ng tiền án phí dân sự s thẩm, đ ợc khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự s thẩm đã nộp là 1.488.000 đ ng theo biên lai số xxxx ngày 10-3-2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C. Ông Lâm Văn P phải nộp tiếp 2.268.500 đ ng tiền án phí dân sự.
+ Bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 phải ch u 367.000 đ ng tiền án phí dân sự s thẩm, đ ợc khấu trừ số tiền tạm ứng án phí dân sự s thẩm đã nộp là 100.000 đ ng theo biên lai số xxxx ngày 27-9-2016. Ông C1 và bà E phải nộp tiếp 267.000 đ ng tiền án phí dân sự.
+ Bà Lâm Th E1, bà Lâm Th E và ông Nguyễn Văn C1 không phải ch u tiền án phí dân sự phúc thẩm. Bà E1, bà E và ông C1 mỗi ng ời đ ợc nhận lại số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đ ng theo biên lai xxxx; xxxx; xxxx cùng ngày 22/3/2018 (do Nguyễn Trung C3 nộp thay), tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C.
Trong tr ờng hợp bản án, quyết đ nh đ ợc thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b c ỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự đ ợc thực hiện theo quy đ nh tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi Nhận:
| - VKSND Tỉnh; - TAND TP.C; - CCTHADS TP.C; - Phòng KTNV- THA TA tỉnh; - Các đ ng sự; - L u: H s vụ án (T). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚCTHẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn Tặng |