vanban.org

Bản án 307/2023/HHST

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/06/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh B: 08 (tám) tháng tù.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thanh B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh B: 08 (tám) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 307/2023/HSST
Ngày 28 - 06 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Hồng Ngọc

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

Ông Phan Đăng Khoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn – Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 315/2023/TLST-HS ngày 02/06/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 06 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh B, sinh năm 1989 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú: A, tổ A, khu phố A, phường BH, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1970 và bà Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1972; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 27/8/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Bản án số 500/2007/HSST. Chấp hành xong bản án ngày 04/08/2010. Đã xoá án tích.

- Ngày 14/02/2014, bị Uỷ ban nhân dân phường Bủu Hoà, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt hành chính 2.000.000 đồng về hành vi “Xâm phạm sức khoẻ của người khác”

- Ngày 30/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 625/2014/HSST. Chấp hành xong bản án ngày 02/02/2015. Đã xoá án tích

Ngày 15/03/2023, bị cáo ra đầu thú tại Công an phường Hoá An, thành phố Biên Hoà. Bị bắt tạm giữ ngày 16/03/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh số 526/LTG ngày 24/03/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa theo Quyết định tạm giam của Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1987

Địa chỉ: Tổ A, khu phố AH, phường HA, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm

1976

Địa chỉ: Số A, khu phố CH, phường HA, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai .

(Bị cáo B có mặt; bà T, ông L – vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh B là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định.

Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 13/3/2023, Nguyễn Thanh B đi bộ lang thang quanh khu vực phường Hoá An, thành phố Biên Hoà, khi đi đến tiệm tóc Hồng Quế thuộc tổ A, khu phố AH, phường HA thì phát hiện trước tiệm có dựng xe mô tô hiệu MingXing biển số 60H6-8155 của bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1978 không có người trông coi, chìa khoá xe vẫn cắm trên ổ khoá xe. B nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên để bán lấy tiền tiêu xài. B tiến lại gần xe mô tô hiệu MingXing biển số 60H6-8155, lén lút lấy xe rồi điều khiển xe đến nhà ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976 để bán xe cho ông L với giá 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng). B đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này. Bà T sau khi phát hiện mất xe đã đến Công an phường Hóa An trình báo lập hồ sơ, tiến hành xác minh. Đến ngày 15/03/2023, B đến Công an phường Hóa An đầu thú, khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản mình và dẫn cán bộ Công an phường Hóa An đến nhà ông L thu hồi lại chiếc xe trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô hiệu MingXing biển số 60H6 - 8155, Số khung: SC0081871, số máy: FMH-Y0024162. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Thu T .

- 01 USB do Đoàn Đặng Thiên T sinh năm 2000 cung cấp có lưu trữ hình ảnh liên quan đến việc Nguyễn Thanh B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, USB được niêm phong kèm theo hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 95/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Biên Hòa kết luận: 01 xe mô tô, gắn máy biển số 60H6-8155 trị giá 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng)

Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu T đã nhận lại tài sản chiếc xe mô tô hiệu MingXing biển số 60H6-8155 nên không yêu cầu bồi thường gì về phần dân sự, ông Nguyễn Văn L không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh B bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 315/CT-VKSBH ngày 30/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo: Nguyễn Thanh B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhân thân xấu, không có nơi ở rõ ràng nên đề nghị xử phạt bị cáo từ 08 (tám) đến 12 (mười hai) tháng tù.

-Về dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Ông Nguyễn Văn L không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh B bồi thường.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Đối với hành vi của Nguyễn Văn L, khi mua tài sản của Nguyễn Thanh B không biết chiếc xe mô tô do Bình trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của Lâm không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Bị cáo Nguyễn Thanh B không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo không nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản người phạm tội ra đầu thú, vật chứng, kết quả định giá tài sản. Qua đó, đã có đủ cơ sở để xác định: Vào Khoảng 13 giờ 00 ngày 13/3/2023 tại tổ A, khu phố AH, phường HA, Nguyễn Thanh B có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô hiệu MingXing biển số 60H6 - 8155 có trị giá 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng) của bà Nguyễn Thị Thu T. Ngày 15/03/2023 bị cáo ra đầu thú. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

. Xét nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, không có nơi ở rõ ràng. Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô hiệu MingXing biển số 60H6 - 8155, Số khung: SC0081871, số máy: FMH-Y0024162. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Thu T .

- 01 USB do Đoàn Đặng Thiên T sinh năm 2000 cung cấp có lưu trữ hình ảnh liên quan đến việc Nguyễn Thanh B thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, USB được niêm phong kèm theo hồ sơ vụ án.

. Về phần dân sự: Bà Nguyễn Thị Thu T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Ông Nguyễn Văn L không yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh B bồi thường

Đối với hành vi của Nguyễn Văn L, khi mua tài sản của Nguyễn Thanh B không biết chiếc xe mô tô do B trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của L không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh B: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/03/2023.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Thanh B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Người có mặt thời hạn tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt thời hạn tính từ ngày nhận bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ