vanban.org

Bản án 307/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Tạ Phƣơng V phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Xử phạt bị cáo Tạ Phƣơng V 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ta Phuong V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số:307/2022/HS-ST
Ngày: 24-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Thu Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Khoa

Ông Huỳnh Hoàng Thuận

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 305/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 315/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Tạ Phƣơng V, sinh năm 1988 tại Cà Mau; nơi cƣ trú: Ấp L, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn N, sinh năm 1963 và bà Trần Thị U, sinh năm 1964; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2022 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Bùi Cu T, sinh năm 1986; địa chỉ: xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, có đơn xin vắng mặt;

Hồ Văn C, sinh năm 1995; địa chỉ: xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có đơn xin vắng mặt.

- Ngƣời làm chứng:

Bà Vi Thị E, sinh năm 1978, vắng mặt;

Bà Ngân Thị H, sinh năm 1988, vắng mặt;

Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1979, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 18/11/2021, sau khi tan ca Bùi Cu T, sinh năm 1986, hộ khẩu thƣờng trú: xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, bà Vi Thị E, sinh năm 1978, hộ khẩu thƣờng trú: xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An, bà Ngân Thị H, sinh năm 1988, hộ khẩu thƣờng trú: xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An và Hồ Văn C, sinh năm 1995, hộ khẩu thƣờng trú: xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình đến quán Từ L, địa chỉ: 11/2 khu phố 1B, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng để ăn uống. Lúc này, Tạ Phƣơng V (là bạn trai của Ngân Thị H) điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave màu xanh, không rõ biển kiểm soát đến gọi bà H về nhƣng bà H không về. Do ghen tuông vì bà H ngồi với Bùi Cu T và Hồ Văn C nên V điều khiển xe chạy tới khu vực chùa Cây Mít thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An tìm bạn tên “Khang” rủ đến quán Từ L tìm bà H đồng thời có ý định đánh ngƣời cùng ngồi C với bà H thì “Khang” đồng ý. Khi đi, Khang mang theo 02 (hai) con dao (loại dao Thái Lan) cất giấu trong ngƣời. Đến quán Từ L thấy Hồ Văn C đang ngồi cùng bà H và bà E thì V nói “tụi nó kìa”. Lúc này, “Khang” bƣớc xuống xe rút ra 02 (hai) con dao cầm trên hai tay và tiến lại đánh ông C, ông C đứng dậy bỏ chạy thì bị “Khang” cầm dao chém trúng vào vùng cổ gây thƣơng tích. Vừa lúc đó Bùi Cu T từ trong nhà vệ sinh của quán Từ L đi ra thì V hô to “nó kìa” rồi giật lấy một con dao của “Khang” đang cầm chạy lại đánh ông T làm T té ngã. Thấy vậy, “Khang” từ ngoài chạy vào dùng dao đâm vào mạn sƣờn của ông T gây thƣơng tích. Bà H, bà E tiến lại can ngăn thì V cùng “Khang” điều khiển xe rời khỏi hiện trƣờng. Ông T, ông C đƣợc đƣa đến Bệnh viện Vạn Phúc 2 điều trị thƣơng tích sau đó đến Công an phƣờng An Phú, thành phố Thuận An trình báo sự việc, yêu cầu giám định thƣơng tích và khởi tố vụ án hình sự.

Ngày 11 và ngày 21/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An tiến hành trƣng cầu Trung tâm pháp y Sở y tế Bình Dƣơng để xác định tình trạng thƣơng tật đối với Bùi Cu T và Hồ Văn C.

Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 35/2022/GĐPY ngày 11/01/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Bình Dƣơng xác định Bùi Cu T bị: vết thƣơng cung mày trái 1x0,2cm, sẹo lành; vết thƣơng ngực trái khoảng liên sƣờn 10 đƣờng nách trƣớc 1x0,2cm, sẹo lành qua đó kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên đối với bị hại Bùi Cu T là 04% (bốn phần trăm).

Cơ chế hình thành thƣơng tích: Vết thƣơng cung mày trái chiều nằm ngang, hƣớng từ trƣớc ra sau, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra; vết thƣơng ngực trái khoảng liên sƣờn 10 đƣờng nách trƣớc có chiều từ trên xuống, hƣớng từ trƣớc ra sau, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 64/2022/GĐPY ngày 21/01/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Bình Dƣơng xác định Hồ Văn C bị vết thƣơng vùng cổ trái cạnh khí quản 1,8x0,1cm, sẹo lành qua đó kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên đối với bị hại Hồ Văn C là 02% (hai phần trăm).

Cơ chế hình thành thƣơng tích: Vết thƣơng vùng cổ trái cạnh khí quản có chiều nằm ngang, hƣớng từ trƣớc ra sau, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc gây ra.

Sau khi gây án, bị cáo Tạ Phƣơng V đã bỏ trốn. Ngày 31/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã có Quyết định truy nã. Ngày 13/7/2022 Công an phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, bắt đƣợc bị cáo Tạ Phƣơng V.

Về vật chứng: Thu giữ 01 (một) USB hiệu Toshiba dung lƣợng 2Gb màu trắng chứa đoạn Video ghi lại diễn biến sự việc. Đây là chứng cứ của vụ án nên cần tiếp tục lƣu trữ tại hồ sơ.

Đối với 02 (hai) con dao bằng kim loại (kiểu dao Thái Lan) mà “Khang” mang theo để cùng V thực hiện hành vi phạm tội, là vật chứng của vụ án. Quá trình tẩu thoát V khai do “Khang” đã cất giữ và không thu hồi đƣợc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không đề cập xử lý.

Đối với xe mô tô kiểu dáng wave màu xanh, không rõ biển kiểm soát, xác định là phƣơng tiện mà V sử dụng chở “Khang” đi thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra V khai xe mƣợn của “Khang” để làm phƣơng tiện đi lại sau khi thực hiện hành vi phạm tội V đã trả xe cho “Khang” nên không thu hồi đƣợc do đó không đề cập xử lý.

Đối với ngƣời thanh niên tên “Khang” là bạn ngoài xã hội trong quá trình đi phụ hồ cùng với V. Khi đƣợc V rủ đi thực hiện hành vi phạm tội thì đồng ý nhƣng sau đó đã bỏ trốn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiến hành xác minh theo đặc điểm nhận dạng do V cung cấp tại khu vực Chùa Cây Mít thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao nhƣng không có kết quả. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bùi Cu T, Hồ Văn C yêu cầu bị cáo Tạ Phƣơng V phải bồi thƣờng cho mỗi bị hại số tiền 20.000.000 đồng.

Cáo trạng số 301/CT-VKS-TA ngày 05/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Tạ Phƣơng V về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Tạ Phƣơng V từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại cho bị hại Bùi Cu T, Hồ Văn C mỗi bị hại số tiền 20.000.000 đồng.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải và xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi và hậu quả: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/11/2021, tại quán Từ L thuộc địa chỉ số 11/2 khu phố 1B, phƣờng An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng. Tạ Phƣơng V rủ “Khang” thực hiện hành vi phạm tội và “Khang” đã sử dụng hung khí là con dao gây thƣơng tích cho các bị hại với tỷ lệ thƣơng tật là 2% và 4%.

Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi nêu trên, bị cáo biết đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến thân thể, sức khỏe của bị hại nhƣng vẫn thực hiện mà mong muốn gây ra thƣơng tích cho bị hại, do đó, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo Tạ Phƣơng V rủ “Khang” dùng hung khí nguy hiểm (dao) gây thƣơng tích cho bị hại Bùi Cu T và Hồ Văn C có tỷ lệ thƣơng tật lần lƣợt là 2% và 4% mặc dù giữa bị cáo và các bị hại không có mâu thuẫn. Do đó đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thƣơng tích; Hành vi đó thể hiện tính côn đồ. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội cố ý gây thƣơng tích là có căn cứ.

Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Tạ Phƣơng V theo điểm c khoản 2 Điều 134 là không đúng quy định pháp luật. Bởi lẽ; tại cùng một địa điểm, cùng thời điểm và không gián đoạn về thời gian bị cáo có hành vi cùng đồng phạm gây thƣơng tích cho bị hại Bùi Cu T và Hồ Văn C có tỷ lệ thƣơng tật lần lƣợt là 2% và 4%, tỷ lệ thƣơng tích của các bị hại cộng dồn không đủ 11%. Nhƣ vậy, hành vi của bị cáo đƣợc hiểu là trƣờng hợp cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai ngƣời trở lên mà mỗi lần tỷ lệ thƣơng tật dƣới 11%. Nên hành vi của bị cáo chỉ cấu thành tội cố ý gây thƣơng tích theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Căn cứ khoản 2 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử bị cáo theo quy định tại các điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác, làm mất an ninh, trật tự tại địa phƣơng. Hiện nay một bộ phận thanh niên trong xã hội chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà sẵn sàng gây thƣơng tích cho ngƣời khác, để lại những hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, việc truy tố và đƣa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và răn đe các đối tƣợng khác.

Về vật chứng: Thu giữ 01 (một) USB hiệu Toshiba dung lƣợng 2Gb màu trắng chứa đoạn Video ghi lại diễn biến sự việc. Đây là chứng cứ của vụ án nên cần tiếp tục lƣu trữ tại hồ sơ.

Đối với 02 (hai) con dao bằng kim loại (kiểu dao Thái Lan) mà “Khang” mang theo để cùng V thực hiện hành vi phạm tội, là vật chứng của vụ án. Quá trình tẩu thoát, do “Khang” đã cất giữ và không thu hồi đƣợc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với xe mô tô kiểu dáng wave màu xanh, không rõ biển kiểm soát xác định là phƣơng tiện V sử dụng chở “Khang” đi thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra V khai xe mƣợn của “Khang” để làm phƣơng tiện đi lại sau khi thực hiện hành vi phạm tội V đã trả xe cho “Khang” nên không thu hồi đƣợc do đó không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với ngƣời thanh niên tên “Khang” là bạn ngoài xã hội trong quá trình đi phụ hồ cùng với V. Khi đƣợc V rủ đi thực hiện hành vi phạm tội thì đồng ý nhƣng sau đó đã bỏ trốn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiến hành xác minh theo đặc điểm nhận dạng do V cung cấp tại khu vực Chùa Cây Mít thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao nhƣng không có kết quả. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt nêu trên là không phù hợp nên không đƣợc chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên Tòa bị cáo đồng ý bồi thƣờng cho các bị hại số tiền 20.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự cho phần bồi thƣờng của các bị hại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a, i Khoản 1 Điều 134; điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ Điều 136, Khoản 2 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 584, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Tạ Phƣơng V phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”.

Xử phạt bị cáo Tạ Phƣơng V 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thƣờng cho bị hại Hồ Văn C và Bùi Cu T mỗi ngƣời 20.000.000 đồng (hai mƣơi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và ngƣời đƣợc thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án không thanh toán số tiền nêu trên thì ngƣời phải thi hành án còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về xử lý vật chứng: Thu giữ 01 (một) USB hiệu Toshiba dung lƣợng 2Gb màu trắng chứa đoạn Video ghi lại diễn biến sự việc. Đây là chứng cứ của vụ án nên cần tiếp tục lƣu trữ tại hồ sơ

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ