- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị thu H xin ly hôn anh Phạm Văn H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Phạm Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 307/2022/HNGĐ-ST Ngày 23 - 12 - 2022 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thảo Yến và ông Nguyễn Văn Thịnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở TAND huyện Phú Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 252/ 2022/ TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2022 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/ 2022/ QĐXX - ST ngày 21 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2022/QĐST - DS ngày 07/12/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991
HKTT: Thôn T, xã L, huyện Th, tỉnh Bắc Ninh.
Bị đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1988
HKTT: Thôn Th, xã H, huyện X, Thành phố Hà Nội.
Chị H có mặt, anh H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và những lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
- Về hôn nhân: Chị H và anh Phạm Văn H tự nguyện kết hôn vào ngày 28/6/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Văn Hoàng, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Sau khi cưới, chị về chung sống với anh H ngay tại gia đình anh H ở thôn Thượng, xã Văn Hoàng, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Sau đó vợ chồng thuê nhà ở ra ở riêng. Quan hệ vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, hơn nữa anh H chơi bời, không quan tâm đến gia đình, vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, chị Hoài đề nghị được ly hôn anh Hùng.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Bảo L, sinh ngày 22/7/2013; Phạm Hùng C, sinh ngày 15/7/2016. Hiện nay cả hai con chung đang ở với chị H. Ly hôn chị H xin được nuôi dưỡng cháu sóc cả 02 con chung, không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về phía bị đơn anh Phạm Văn H:
Quá trình giải quyết vụ án, anh H không đến Tòa làm việc, nên Tòa án kết hợp với UBND xã Văn H, thôn Th đến tận nhà anh H giao trực tiếp cho anh Phạm Minh T (là em trai anh H) và niêm yết, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh H vẫn không đến tòa làm việc.
Tại đơn trình bầy ngày 26/10/2022 anh Hùng có gửi cho Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên với nội dung: “Xin Tòa bác bỏ đơn ly hôn của vợ tôi. Tôi xin Tòa cho tôi được nuôi dưỡng cả 02 con, được như vậy tôi mới đồng ý ký cho vợ tôi đi bước nữa”.
Mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh Hùng cố tình không đến Tòa làm việc.
Tại phiên toà: Chị Nguyễn Thị Thu H vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình.
Đại diện VKSND huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu Hoài, cho chị H được ly hôn với anh Phạm Văn H; giao cả 02 con chung là cháu Phạm Bảo L, sinh ngày 22/7/2013; Phạm Hùng C, sinh ngày 15/7/2016 cho chị H trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc; tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh H và không xem xét quan hệ tài sản chung vợ chồng do chị Hoài không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù vào thời điểm Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, anh Phạm Văn Hùng vẫn có hộ khẩu thường trú tại thôn Thượng, xã Văn Hoàng, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng vẫn không thấy anh Hùng đến Tòa làm việc, nên bị coi là trường hợp bị đơn cố tình không đến Tòa làm việc; vì vậy, không cần sự có mặt của anh H Tòa án vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Văn Hùng, tuy là cuộc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ có đăng ký kết hôn tại UBND xã Văn Hoàng, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội, thời gian chung sống hạnh phúc ngắn, sau đó chị H không chung sống với anh H nữa là một bằng chứng nói lên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H tuy không rõ nguyên nhân từ đâu, song đã ẩn chứa những mâu thuẫn, bất đồng hết sức nghiêm trọng.
Do thời gian ly thân đã lâu, mọi níu kéo trở nên vô vọng, tình cảm vợ chồng không còn, phía chị Hoài quyết định xin ly hôn anh Hùng. Quá trình tố tụng, việc anh Hùng cố tình không chịu đến tòa làm việc không chỉ thể hiện thái độ không tôn trọng cơ quan tố tụng mà ở một góc độ khác còn thể hiện ý thức không mong muốn hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Xác minh tại nơi cư trú, chính quyền địa phương đã xác nhận, hiện tại chị H và anh H không sống cùng nhau, mỗi người ở một nơi.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị Hoài xin ly hôn anh H là có cơ sở, nên áp dụng các quy định tại các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 39 của BLDS chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H, cho chị H được ly hôn với anh Phạm Văn Hùng.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Bảo Lâm, sinh ngày 22/7/2013; Phạm Hùng Cường, sinh ngày 15/7/2016. Quá trình giải quyết chị Hoài, anh Hùng đều có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 con chung. Tuy nhiên hiện tại anh Hùng không có mặt tại địa phương, hơn nữa con chung có nguyện vọng xin được ở với chị Hoài; nên HĐXX nhất trí giao cả hai con chung là cháu Phạm Bảo Lâm, Phạm Hùng C cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Về tài sản chung: Do chị H không yêu cầu giải quyết; quá trình giải quyết vụ án, anh Hùng không đến Tòa làm việc, nên chưa có đầy đủ căn cứ xác định được tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt nên phần tài sản, công nợ của vợ chồng, cần tách ra chưa xét trong vụ án này và sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có tranh chấp phát sinh .
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 39 BLDS; Điều 147 Bộ luật TTDS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Phạm Văn H.
2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung là cháu Phạm Bảo L, sinh ngày 22/7/2013; Phạm Hùng C, sinh ngày 15/7/2016. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho anh H đến khi chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số AA/2020/0047989 ngày 20/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Chị H đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kÓ tõ ngµy nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố; - VKSND Thành phố, huyện; - Chi cục THADS huyện;. - Các đương sự; - UBND xã Văn Hoàng; - Lưu hồ sơ + VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ( đã ký) Lã Phi Hùng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |