vanban.org

Bản án 306/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 24/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Trần Nô E phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo Trần Nô E 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Nô E - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 306/2024/HS-ST
Ngày: 24 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Yến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Thủy

2. Ông Nguyễn Thanh Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Ngoan – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 334/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 336/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Nô E, sinh ngày 01/01/1982; tại: thành phố L, tỉnh Đồng Tháp.

Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp 10 B, xã H2, huyện M, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Thợ hồ; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị T; bị cáo chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị H (sinh năm 1979) và có 01 người con (sinh năm 2006).

Tiền sự: Không

Tiền án: Không

Ngày 02/8/2024 thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, đến ngày 04/9/2024 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh số 922, ngày 04/9/2024 để điều tra. Hiện bị cáo đang được tại ngoại tại Ấp 10 B, xã H2, huyện M, tỉnh Kiên Giang.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 10 B, xã H2, huyện M, tỉnh Kiên Giang.

* Người làm chứng:

- Ông Cao Minh H1, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 186, đường D, phường H3, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

- Bà Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1964 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 171, đường D, phường H3, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Nô E, sinh năm 1982 và Nguyễn Thị H, sinh năm 1979 sống chung với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn tại ấp 10 B, xã H2, huyện M, tỉnh Kiên Giang. Khoảng tháng 6/2024 thì H đi đến tỉnh Bình Dương để thăm con nhưng chưa về nhà nên vào khoảng 09 giờ ngày 02/8/2024, Nô E gọi điện thoại hỏi H đã về chưa thì H trả lời đến khoảng 22 giờ tối cùng ngày sẽ về. Do nghi ngờ H nói dối nên Nô E một mình điều khiển xe mô tô đến thành phố Rạch Giá để tìm kiếm H. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì Nô E nhìn thấy H đang ngồi phía sau xe mô tô do Dương Hoàng K, sinh năm 1986, HKTT: ấp 10 B, xã H, huyện M, tỉnh Kiên Giang điều khiển chạy trên đường D, phường H3 (đoạn gần Cầu Kênh Cụt) là người hàng xóm của Nô E, khi Nô E nhìn thấy Kha chạy xe chở H ngồi sau ngang qua thì Nô E vứt bỏ xe vào lề đường Trần Khánh Dư và nhặt được một thanh kim loại dạng hộp vuông, loại 4 cạnh, kích thước 03cm x 03cm, dài 109,3cm (thanh sắt) ném thẳng về phía xe của Kha nhưng không trúng ai, Kha tiếp tục chở H về đến trước cửa nhà của ông Cao Minh H1 (người thân của H) ở số 186, đường D, phường H3, thành phố G thì Kha dừng xe cho H xuống rồi Kha bỏ chạy đi. Khi Nô E cầm thanh kim loại trên tay (bên phải) chạy theo về đến trước nhà số 186, đường D gặp H đang đứng đối diện Nô E liền dùng thanh sắt đánh trúng nhiều cái vào vùng bả vai trái, mặt ngoài cánh tay trái, mặt ngoài vùng đùi trái, mặt sau vùng cẳng chân trái của H gây thương tích. Sau đó được ông H1 ra can ngăn giật lấy thanh kim loại từ Nô E và H được đưa vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang điều trị thương tích đến ngày 08/8/2024 thì ra viện. Sau đó bị hại Nguyễn Thị H đến Công an phường An Hòa trình báo sự việc. Sau khi cơ quan Công an phường An Hòa triệu tập Trần Nô E đến làm việc thì đối tượng đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội gây thương tích cho H và giao nộp hung khí gây án. (bút lục số 42, 43, 88, 89, 95, 97-100).

Ngày 04/9/2024, Trần Nô E bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 (một) thanh kim loại dạng hộp vuông, loại 4 cạnh, kích thước 03cm x 03cm, dài 109,3cm, màu ánh kim.

* Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống, số 562/KLTTCT-PY ngày 20 tháng 8 năm 2024, của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận:

1. Các kết quả chính:

- Kết quả khám giám định:

+ Chấn thương vùng bả vai trái đã được điều trị ổn. Hiện không thấy dấu vết thương.

+ Chấn thương phần mềm vùng cánh tay trái, đùi trái và mặt sau cẳng chân trái, hiện còn bầm tụ máu (vết biến đổi sắc tố da).

+ Sẹo phần mềm vùng mặt trước cẳng chân trái (03 vết).

- Kết quả cận lâm sàng.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị H tại thời điểm giám định là: 07% (bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định ở:

- Vùng bả vai trái là: 00% (Không phần trăm).

- Vùng cánh tay trái là: 0,5% (Không phẩy năm phần trăm).

- Vùng đùi trái là: 01% (Một phần trăm).

- Vùng cẳng chân trái mặt sau là: 01% (Một phần trăm).

- Vùng cẳng chân trái mặt trước:

+ Vết 1 là: 01% (Một phần trăm).

+ Vết 2 là: 02% (Hai phần trăm).

+ Vết 3 là: 02% (Hai phần trăm).

2.3. Vật gây thương tích:

- Thương tích ở bả vai trái, cánh tay trái, đùi trái và mặt sau cẳng chân trái do vật tày gây nên.

- Thương tích ở mặt trước cẳng chân trái do vật tày có cạnh gây nên. (bút lục số 81- 84).

* Tại bản Kết luận số 563/KLVGTT-PY ngày 20/8/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận vật gây thương tích như sau:

1. Các kết quả chính:

- Mẫu vật thanh kim loại gửi giám định vừa là dạng vật tày, vừa là dạng vật tày có cạnh.

- Thương tích ở cánh tay trái, đùi trái và mặt sau cẳng chân trái do vật tày gây nên.

- Thương tích ở mặt trước cẳng chân trái do vật tày có cạnh gây nên.

2. Kết luận:

Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định:

- Mẫu vật thanh kim loại gửi giám định có đặc tính giống với đặc tính của vật gây thương tích ở vùng bả vai trái, cánh tay trái, đùi trái, mặt sau cẳng chân trái và mặt trước cẳng chân trái của bà Nguyễn Thị H nên có thể gây được thương tích ở vùng bả vai trái, cánh tay trái, đùi trái, mặt sau cẳng chân trái và mặt trước cẳng chân trái của bà Nguyễn Thị H. (bút lục số 85- 87).

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị H không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích và bất cứ khoản chi phí nào khác. (bút lục số 130, 131).

* Bản cáo trạng số: 341/CT-VKSRG ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Nô E về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo Trần Nô E thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Nô E và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Nô E mức án từ 06 (sáu) tháng đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.

+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh kim loại dạng hộp vuông, loại 4 cạnh, kích thước 03cm x 03cm, dài 109,3cm, màu ánh kim là hung khí do bị cáo dùng để gây án.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị H không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích và bất cứ khoản chi phí nào khác, nên không đề nghị xE xét.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử xE xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Nô E thừa nhận toàn bộ hành vi cố ý gây thương tích đối với bà Nguyễn Thị H. Xét lời khai nhận tội của bị cáo đúng theo nội dung kết luận điều tra, nội dung bản cáo trạng; đồng thời phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; kết luận giám định thương tích trên người bị hại, vật chứng thu giữ được cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/8/2024, Trần Nô E thấy vợ mình là Nguyễn Thị H đang ngồi phía sau xe mô tô do Dương Hoàng K chở (K là người cùng xóm với H và Nô E) nên Nô E ghen tuông dùng thanh sắt ném nhưng không trúng, sau đó khi Kha dừng xe tại trước nhà số 186, đường D, phường H3, thành phố G thì Nô E dùng 01 (một) thanh sắt hộp vuông, loại 4 cạnh, kích thước 03cm x 03cm, dài 109,3cm (nhặt được ven đường trước đó) đánh nhiều cái vào vùng bả vai trái, cánh tay trái, đùi trái, mặt sau cẳng chân trái và mặt trước cẳng chân trái của bà H gây thương tích; qua giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà H do thương tích gây nên là 07% (Bảy phần trăm).

Xét thấy, hung khí bị cáo dùng gây thương tích cho bà H là thanh sắt hộp vuông, loại 4 cạnh, đây là vật cứng bằng kim loại, có cạnh, khi dùng lực tác động vào cơ thể người sẽ gây tổn hại đến sức khỏe, thậm chí ảnh hưởng đến tính mạng con người, nên theo quy định pháp luật được xác định là loại “hung khí nguy hiểm”. Theo đó, hành vi của bị cáo dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại H với tỷ lệ 07% đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt được quy định là “bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Xét cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá truy tố bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát luận tội tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo đã thực hiện phạm vào tội ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm và gây tổn hại đến sức khỏe của người bị hại, đồng thời làm mất trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo khi thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có đủ khả năng nhận thức biết được hành vi của mình sẽ gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại; tuy nhiên chỉ vì ghen tuông cùng ý thức xE thường pháp luật, bị cáo sẵn sàng dùng vũ lực giải quyết mâu thuẫn, trực tiếp thực hiện hành vi gây thương tích cho người bị hại với lỗi cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đồng thời bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo hiện đang thờ cúng bác ruột là liệt sĩ (có quyết định trợ cấp thờ cúng liệt sĩ). Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi lượng hình.

Xét các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Xét thấy bị cáo Trần Nô E phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên có căn cứ để Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ tính răn đe đối với bị cáo và tạo điều kiện cho bị cáo ở ngoài xã hội lao động lương thiện để nuôi sống bản thân và gia đình; qua đó cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Ngoài ra, xét thấy bị cáo là lao động làm thuê, không có thu nhập ổn định, đang chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ già yếu, nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 (một) thanh kim loại dạng hộp vuông, loại 4 cạnh, kích thước 03cm x 03cm, dài 109,3cm, màu ánh kim; đây là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng; nên Hội đồng xét xử thống nhất xử tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị H không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại sức khỏe và không có yêu cầu gì khác; nên Hội đồng xét xử không xE xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Tuyên bố bị cáo Trần Nô E phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Trần Nô E 01 (Một) năm cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự nhận được Quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trần Nô E cho Ủy ban nhân dân xã H2, huyện M, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) thanh kim loại dạng hộp vuông, loại 4 cạnh, kích thước 03cm x 03cm, dài 109,3cm, màu ánh kim.

(Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số: 210/QĐ-VKS ngày 22/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá).

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo;

Buộc bị cáo Trần Nô E phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/12/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ