- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H phạm tội Cố ý gây thương tích. (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội cố ý gây thương tích h…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 điều 134, điểm b,I, s khoản 1 điều 51; khoản 2 điều 51; điều 65
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:306/2023/HSST Ngày: 18/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Minh Hoa
Ông Nguyễn Văn Đông
Hội thẩm dự khuyết: Ông Lưu Văn Thiệm, Bà Đỗ Hảo Hoàn, Ông Hoàng Văn Hạnh, Bà Nguyễn Thị Tâm, Ông Nguyễn Văn Toàn.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy - Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1986; Giới tính: Nữ; nơi đăng ký HKTT: Tổ B M, Cầu G, Hà Nội; Nơi ở: Số C Ngõ E P, Tổ 2, M, Cầu G, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu Q (Đã mất); Con bà: Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1963; Bị cáo có chồng là: Nguyễn Văn Q1 ; Có 2 con, sinh năm 2008 và năm 2013; Theo danh bản, chỉ bản số 562 do Công an quận C lập ngày 09/9/2023 bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Nhân thân: Không. Đầu thủ ngày 15/09/2023; Bị tạm giữ ngày 21/9/2023; Hủy bỏ tạm giữ ngày 30/9/2023. Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
Người bị hại: Chị Nguyễn Thị L – sinh năm 1968
HKTT: Số A P, Tổ A M, Cầu G, Hà Nội.
Địa chỉ: Số H, ngõ B, P, phường M, quận C, Thành phố Hà Nội. ( có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như
sau: Khoảng 11 giờ 30' ngày 15/09/2023, chị Nguyễn Thị L, thấy Nguyễn Thị H cho chó đi vệ sinh tại trước cửa nhà chị L, nên hai bên lời qua tiếng lại, chị L chửi H. Do bức xúc, H dùng tay phải cúi xuống nhặt 01 viên gạch (dạng gạch xi măng lát nền vỡ) chạy về phía chị L, vung tay lên đập viên gạch theo hướng từ trên xuống dưới về phía đầu của chị L 02 cái, chị L giơ tay lên đỡ và giằng co làm viên gạch rơi xuống đất. H tiếp tục cúi xuống, dùng tay trái cầm viên gạch vung về phía đầu chị L nhưng không trúng, H chuyển viên gạch sang tay phải rồi giơ lên dọa chị L. Lúc này, chị L tiến lại gần nên H ném gạch trúng vùng bụng chị L, chị L chạy lại gần H giằng co, dùng tay phải đấm 01 phát trúng mắt trái của H rồi đấy 01 biển quảng cáo có chân dựng gần chỗ H để ngăn không cho H lao đến. Chị L nhặt 01 viên gạch (dạng gạch xi măng lát nền vỡ) giơ lên dọa H. H chạy lại xe máy gần đó lấy 01 mũ bảo hiểm định chống trả. Chị L nhặt 01 chiếc dép và 02 viên gạch ném liên tiếp về phía H nhưng không trúng. H và chị L đều nhặt 01 viên gạch giơ lên dọa nhau rồi ném về phía đối phương, nhưng đều không trúng. H tiếp tục lấy 01 viên gạch ném về phía chị L thì chị L dùng tay đỡ được.
Chị L nhặt 01 viên gạch đuổi đánh thì H bỏ chạy về phía đầu ngõ B, đường P. Khi
chạy đến quấy bán thịt của chị Trần Thị Đ (SN: 1978, HKTT T, Y, Vĩnh Phúc), H lấy 01 con dao (cán gỗ, lưới sắc nhọn) ở quấy hàng chị Đ giờ lên dọa chỉ L, chị L cũng vào lấy 01 con dao giơ lên đọa đánh H. Lúc này, chị Đ can ngăn và lấy con dao của H. H chạy vào khu vực quầy bản rau củ, ném hoa quả về phía chị L nhưng không trúng. H bỏ chạy thì chị L đuổi theo. Sau đó, H gặp em trai là anh Nguyễn Ngọc L1 (SN: 1988, HKTT: M, Cầu G, Hà Nội) trên đường. Lúc này, anh L1 và anh Phạm Xuân P (SN: 1991, HKTT: Đại Tập, K, Hưng Yên) can ngăn các bên rồi H bỏ về nhà.
Ngày 15/09/2023, chị L đến Công an phường M trình báo sự việc. Đến ngày
21/09/2023, H được Công an phường M mời đến làm việc.
Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Thị H đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
như nội dung đã nêu trên.
Cơ quan điều tra thu giữ tang vật: 01 miếng gạch (dạng bê tông lát nền vỡ), kích
thước khoảng (07x15)cm của chị Nguyễn Thị L là hung khí H dùng để đánh chị L.
Rà soát khu vực hiện trường, phát hiện camera tại khu vực trước nhà số H ngõ B P,
tại khu vực trước nhà số A ngõ B P và trước nhà số B ngõ B P, M, Cầu G, Hà Nội ghi nhận hình ảnh sự việc Nguyễn Thị H xô xát với chị Nguyễn Thị L ngày 15/9/2023. Tiến hành rà soát, ghi lời khai người làm chứng là anh Phạm Xuân P, xác định: Ngoài Nguyễn Thị H, anh P không chứng kiến người nào khác đánh, gây thương tích cho chị L.
Tiến hành nhận dạng, thực nghiệm điều tra, xác định: Nguyễn Thị H là người đã
đánh, gây thương tích cho chị Nguyễn Thị L vào ngày 15/9/2023.
Kiểm tra dấu vết trên thân thể đối với Nguyễn Thị H, phát hiện, ghi nhận: 01 vùng
xây xát da ở khuỷu tay phải, đã lên da non. 01 vùng xây xát da ở mặt trước cẳng chân phải, đã lên da non. 01 vết bầm tím ở mặt trong cẳng chân trái, gần dầu gối. Đối với các thương tích trên, Nguyễn Thị H từ chối giám định thương tích. Việc H từ chối là tự nguyện, không bị ai đe dọa, ép buộc. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị Nguyễn Thị L về hành vi Cố ý gây thương tích.
Kiểm tra dấu vết trên thân thể đối với chị Nguyễn Thị L, phát hiện, ghi nhận: 01 vết
rách da sâu kích thước dài 3cm trên ngón út tay trái. 01 vết rách da sâu dài 4cm trên vùng đỉnh đầu bên trái. 01 vùng xây xát da ở khu vực bụng gần rốn. 01 vết bầm tím ở bả vai phải. 01 vết sưng bầm tím ở lòng bàn tay (gần cổ tay) của bản tay trái.
Kết luận giám định tổn thương số 1383/KLTTCT- TTPY ngày 28/09/2023 của Trung
tâm P1 kết luận:
1. Các kết quả chính:
1.1. 01 vết thương vùng đỉnh phải: 01%.
1.2. Vết thương bàn ngón tay tay trái: 01%.
2. Kết luận:
2.1. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị L tại thời điển giám định
trong vụ việc ngày 15/9/2023 là 02% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư 22/2019/TT-BYT.
2.2. Kết luận khác:
- Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày, vật tày có cạnh, vật có cạnh sắc
- Hiện chưa đánh giá hết được các mức độ di chứng, biến chứng tổn thương. đề nghị
giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định, nếu có căn cứ.
Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định cho chị L. Chị L đồng ý và không
đề nghị giảm định lại hay giám định bổ sung do sức khỏe chị L hiện đã bình phục.
Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng. vật
chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác đã thu thập được.
Về dân sự: Chị Nguyễn Thị L yêu cầu Nguyễn Thị H phải bồi thường số tiền
60.000.000 đồng gồm 10.000.000 đồng là tiền khám, chữa bệnh và 50.000.000 đồng là tiền bồi thường tổn hại về tinh thần và yêu cầu xử lý đối với H theo quy định pháp luật.
Bản cáo trạng số 309/CT-VKSCG ngày 29/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận
Cầu Giấy truy tố Nguyễn Thị H về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận
nội dung cáo trạng truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Thị H về
tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 điều 134; điểm b,I, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Thị H từ 10 tháng tù đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách từ 20 đến 30 tháng.
Về phần bồi thường dân sự: Quá trình điều tra chị Nguyễn Thị L yêu cầu Nguyễn Thị
H phải bồi thường số tiền 60.000.000 đồng gồm 10.000.000 đồng là tiền khám, chữa bệnh và 50.000.000 đồng là tiền bồi thường tổn hại về tinh thần cho chị L.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo bồi thường chị L khoản tiền tiền khám,
chữa bệnh theo quy định của pháp luật. Đối với khoản tiền bồi thường tổn hại về tinh thần là không có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận khoản tiền trên.
Về vật chứng: 01 miếng gạch (dạng bê tông lát nền vỡ), kích thước khoảng (07x15)cm
không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài trong hồ sơ vụ liệu án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1/ Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên;
Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
2/ Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai bị cáo đã khai tại cơ quan
điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác, có đủ cơ sở xác định: Do mâu thuẫn trong sinh hoạt hàng ngày, vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 15/09/2023, tại ngách E ngõ E P, M, Cầu G, Hà Nội Nguyễn Thị H và chị Nguyễn Thị L có lời qua tiếng lại dẫn đến xô xát với nhau. Nguyễn Thị H đã có hành vi dùng gạch đánh và ném vào người chị L, gây thương tích cho chị Nguyễn Thị L với tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 02%. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy Viện Kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
3/ Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được luật pháp
bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi có tội phạm xảy ra. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có nhận thức được hành vi và đường lối xử lý của pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại. Vì vậy cần có 1 mức án đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xét: lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp
ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, I, s khoản 1, điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đầu thú, tại phiên tòa người bị hại xác nhận cũng có lỗi 1 phần, đó là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng là điều kiện cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như quy định tại điều 65 Bộ luật hình sự.
4/ Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra chị Nguyễn Thị L yêu cầu Nguyễn Thị
H phải bồi thường số tiền 60.000.000 đồng gồm 10.000.000 đồng là tiền khám, chữa bệnh và 50.000.000 đồng là tiền bồi thường tổn hại về tinh thần cho chị L.
Tòa án xét thấy:
4.1: Đối với khoản tiền bồi thường cho việc khám chữa bệnh: Tại phiên tòa chị
Nguyến Thị L2 cung cấp các tài liệu chứng minh các khoản chi phí cho việc khám chữa bệnh và yêu cầu bị cáo H phải bồi thường cho chị số tiền là 9.504.272 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận. Tuy nhiên ngày 15/12/2023, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy để bồi thường cho chị L2. Vì vậy ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về số tiền bồi thường như trên. Chị Nguyễn Thị L được nhận số tiền trên tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
4.2: Đối với khoản tiền bồi thường về tổn hại về tinh thần: Quá trình điều tra, xét xử
và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị L yêu cầu Nguyễn Thị H phải bồi thường số tiền 50.000.000 đồng là tiền bồi thường tổn hại về tinh thần cho chị. Tuy nhiên chị L không cung cấp được các tài liệu chứng minh sau khi bị H gây thương tích, chị có bị tổn hại về tinh thần. Hơn nữa tại phiên tòa chị cũng xác định có lỗi trong vụ việc này và nguyên nhân chính dẫn đến vụ việc là do chị có những lời nói không đúng mức (Mặc dù tại phiên tòa chị có trình bày là do trình độ học vấn thấp nên chị đã có những lời nói trên).
Căn cứ các Điều 584; 585; 590 Bộ luật dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/NQ-
HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần của chị L Không đủ căn cứ chấp nhận. Nếu sau này chị có tài liệu chứng minh sẽ giành quyền khởi kiện cho chị bằng vụ kiện khác.
5/ Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm Sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a
khoản 1 điều 134; điểm b, I, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị H bằng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là có cơ sở.
6/ Về vật chứng: đối với 01 miếng gạch (dạng bê tông lát nền vỡ), kích thước khoảng
(07x15)cm là vật bị cáo dùng để gây thương tích cho chị L không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp quy định của pháp luật.
7/ Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, Do bị cáo
đã bồi thường nên bị cáo không phải chịu án phí dân sự và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào:
Điểm a khoản 1 điều 134, điểm b,I, s khoản 1 điều 51; khoản 2 điều 51; điều 65
Bộ luật hình sự 2015.
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điều 584; 585; 590 Bộ luật dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục
kèm theo của Ủy Ban T khóa 14.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 10 (mười) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Nhưng cho hưởng án treo hạn thử thách 20 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo về UBND phường M, quận C, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách của án treo, trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo khoản 1 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
2. Về bồi thương thiệt hại: Bị cáo Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm bồi thường
cho chị Nguyễn Thị L số tiền bồi thường thiệt hại là: 10.000.000 đồng (mười triệu). Bị
cáo đã bồi thường theo biên lai thu số 0043 ngày 15/12/2023 ngày Của Chi cục Thi hành
án dân sự quận Cầu Giấy.
Chị Nguyễn Thị L được nhận tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy số tiền
10.000.000 đồng (mười triệu). Bị cáo đã nộp để bồi thường cho chị L.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 miếng gạch (dạng bê tông lát nền vỡ),
kích thước khoảng (07x15)cm. Vật chứng (miếng gạch) trên đang được lưu giữ tại Chi
cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy theo biên bản giao nhận vật chứng số 64 GN/THA
- CA ngày 18/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của mình
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Cầu Giấy; - Chi cục THADS quận Cầu Giấy; - Bị cáo; Người bị hại - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Lương |