- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị S và ông Phùng Minh P.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 306/2023/HNGĐ-ST Ngày: 09/6/2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa bà S và ông P |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Võ Việt Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thu Thuỷ, Bà Trương Thị Tú Anh.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu-Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 237/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023, việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 220/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 257/2023/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa:
1.Nguyên đơn: Bà Võ Thị S, sinh năm 1989.
Địa chỉ: ấp KB II, xã KA, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Bà Võ Thị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Ông Phùng Minh P, sinh năm 1986. Vắng mặt.
Địa chỉ: ấp CD, xã TMT, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*.Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị S trình bày và có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Giữa bà Võ Thị S và ông Phùng Minh P do gia đình mai mối và tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2011, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn trể hạn theo giấy chứng nhận kết hôn số 83/2012, ngày 23/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã TMT, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cả hai không có tiếng nói chung, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và vợ chồng đã ly thân từ giữa năm 2022 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Võ Thị S yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phùng Minh P.
Về con chung: Có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Phùng Võ Cẩm T, sinh ngày 14/9/2012 và Phùng Võ Cẩm L, sinh ngày 24/12/2016. Hiện nay cháu T và cháu L đang sống chung với bà Võ Thị S và ý kiến của cháu T có nguyện vọng được sống chung với bà Võ Thị S. Khi L hôn bà Võ Thị S yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Phùng Võ Cẩm T, sinh ngày 14/9/2012 và Phùng Võ Cẩm L, sinh ngày 24/12/2016, không yêu cầu ông Phùng Minh P phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà Võ Thị S và ông Phùng Minh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*.Ngày 24 tháng 4 năm 2023, Toà án nhân dân huyện Châu Phú nhận được đơn xin xác nhận ý kiến không ghi ngày tháng năm của bị đơn ông Phùng Minh P, thể hiện như sau: Ông hoàn toàn đồng ý ký tên vào đơn ly hôn nhưng do đi làm ăn xa nên không có mặt, mong quý Toà cho phép bà S được ly hôn đơn phương theo nguyện vọng của bà S. Hai đưá con gái do bà S nuôi. Ông không cấp dưỡng bất cứ gì. Ông xin để lại toàn bộ tài sản chung cho bà S.
*.Bị đơn ông Phùng Minh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:
Về tố tụng: Phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng nguyên đơn bà Võ Thị S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 05/5/2023, với nội dung đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà Võ Thị S. Ông Phùng Minh P đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Phùng Minh P vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Võ Thị S và ông Phùng Minh P.
Về hôn nhân: Giữa bà Võ Thị S và ông Phùng Minh P là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Xem xét yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị S, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẫn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Phùng Minh P không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị S. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị S là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Võ Thị S được ly hôn với ông Phùng Minh P.
Về nuôi con chung: Theo giấy khai sinh của Phùng Võ Cẩm T và Phùng Võ Cẩm L, lời trình bày của bà Võ Thị S thì bà và ông Phùng Minh P có con chung chưa thành niên tên Phùng Võ Cẩm T, sinh ngày 14/9/2012 và Phùng Võ Cẩm L, sinh ngày 24/12/2016 hiện do bà Võ Thị S đang nuôi dưỡng, chăm sóc.
Xét thấy, con chung Phùng Võ Cẩm T và Phùng Võ Cẩm L được bà Võ Thị S giáo dục, chăm sóc nuôi dưỡng, quyền lợi của con chung được đảm bảo ổn định, bà Võ Thị S yêu cầu tiếp tục nuôi con chung và ông Phùng Minh P đồng ý cho bà Võ Thị S được nuôi con là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Giao con chung đã thành niên tên Phùng Võ Cẩm T, sinh ngày 14/9/2012 và Phùng Võ Cẩm L, sinh ngày 24/12/2016 cho bà Võ Thị S được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Bà Võ Thị S và các thành viên trong gia đình của bà Võ Thị S không được cản trở ông Phùng Minh P thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Bà Võ Thị S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị S trình bày giữa bà và ông Phùng Minh P về tài sản chung và nợ chung là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông Phùng Minh P trình bày xin để lại toàn bộ tài sản chung cho bà S. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Phùng Minh P để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
Về án phí: Bà Võ Thị S là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 và khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Võ Thị S và ông Phùng Minh P.
Giấy chứng nhận kết hôn số: 83/2012, ngày 23/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã TMT, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2.Về nuôi con chung: Có 02 (hai) con chung chưa thành niên tên Phùng Võ Cẩm T, sinh ngày 14/9/2012 và Phùng Võ Cẩm L, sinh ngày 24/12/2016.
2.1.Giao con chung chưa thành niên tên Phùng Võ Cẩm T, sinh ngày 14/9/2012 và Phùng Võ Cẩm L, sinh ngày 24/12/2016 cho bà Võ Thị S được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.
Bà Võ Thị S và các thành viên trong gia đình của bà Võ Thị S không được cản trở ông Phùng Minh P thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2.2.Bà Võ Thị S không yêu cầu về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị S trình bày tài sản chung và nợ chung là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông Phùng Minh P trình bày xin để lại toàn bộ tài sản chung cho bà S nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
4.Về án phí: Bà Võ Thị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005469 ngày 10 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Võ Thị S đã nộp đủ.
5.Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thị S và ông Phùng Minh P vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - VKSND huyện Châu Phú; - Chi Cục THADS huyện Châu Phú; - UBND xã TMT; - Lưu hồ sơ, Vp./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trương Thị Thu Thuỷ Trương Thị Tú Anh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Võ Việt Nam THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Võ Việt Nam |