- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở l…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A);
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 348 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 305/2025/HS-PT Ngày 17/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tự Học;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tất Nam;
Ông Ngô Quang Dũng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Ly, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 158A/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác Nguyễn Thế A) phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A), sinh ngày 27/8/1986 tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Đội 7, thôn Áng Hạ, xã Lê Thanh, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ph (đã chết) và bà Vũ Thị Nh; có vợ là Phạm Thị Ph, chưa có con; tiền án: Bản án số 04/2022/HSST ngày 14/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 351/2012/HSST ngày 24/10/2012 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 260/2013/HSST ngày 18/9/2013 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 123/2015/HSPT ngày 08/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Quyết định số 103/QĐ-XPHC ngày 25/11/2021 bị Công an huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang từ ngày 16/8/2024, đến ngày 27/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Viết H có kháng cáo sau đó đã xin rút kháng cáo, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã ban hành quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Viết H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cuối tháng 5/2024, Nguyễn Văn A được người quen tên là Sỹ gọi điện cho biết có người tên Long đang cần tìm người lái xe taxi ở Hà Nội để chở khách và Sỹ đã cho Long số điện thoại của Nguyễn Văn A. Sau đó, có người đàn ông tự giới thiệu tên là Long sử dụng số điện thoại 0348.263.862 gửi kết bạn với Nguyễn Văn A qua Telegram. Long cho Nguyễn Văn A biết có người Trung Quốc nhập cảnh trái phép cần chở từ tỉnh Cao Bằng về Hà Nội và một số tỉnh khác và ngược lại, Long thuê Nguyễn Văn A đi chở mỗi chuyến khoảng từ 02 đến 04 người, tiền công là 5.000.000 đồng/01 chuyến, Nguyễn Văn A đồng ý.
Khoảng 11 giờ ngày 07/6/2024, Long gọi điện qua Telegram thuê Nguyễn Văn A khoảng từ 01 - 03 giờ ngày 08/6/2024 đón 05 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép tại khu vực gần trường học xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng rồi đưa về khu công nghiệp Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, tiền công là 5.000.000 đồng. Do không đi chở được nên Nguyễn Văn A thuê Nguyễn Viết H đi chở với tiền công là 4.500.000 đồng, Nguyễn Văn A cho Nguyễn Viết H biết đó là những người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, Nguyễn Viết H đồng ý. Sau đó, Nguyễn Văn A báo lại cho Long biết về việc thuê Nguyễn Viết H đi chở người và gửi số điện thoại, biển số xe của Nguyễn Viết H cho Long để liên lạc.
Khoảng 15 giờ ngày 07/6/2024, Nguyễn Viết H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30G-349.46 đi từ nhà tại huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đến tỉnh Cao Bằng để đón người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, trên đường đi Nguyễn Viết H được Nguyễn Văn A điện thoại cho biết đã gửi số điện thoại của Nguyễn Viết H cho người giao khách tại tỉnh Cao Bằng. Khoảng 21 giờ, có người đàn ông dùng số điện thoại 0348.980.544 gọi cho Nguyễn Viết H hỏi đã đi đến đâu, Nguyễn Viết H cho biết đã đi đến ngã ba đường rẽ vào huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, người này bảo Nguyễn Viết H nghỉ ở gần đó, khi nào khách đến sẽ gọi để đón.
Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 08/6/2024, người đàn ông sử dụng số điện thoại 0348.980.544 gọi điện bảo Nguyễn Viết H đi vào gần Trường trung học cơ sở xã Đàm Thủy để đón khách. Khi Nguyễn Viết H đến điểm hẹn thì thấy một người đàn ông đi xe mô tô đến bảo Nguyễn Viết H quay xe lại, sau khi Nguyễn Viết H quay xe xong thì người này đưa 03 người đàn ông đi từ trong bãi ngô ra và cho lên xe ô tô của Nguyễn Viết H rồi người đàn ông này dời đi. Lúc này, Nguyễn Viết H thấy 03 người khách này nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, quần áo có nhiều bùn đất nên nhận thức được đây là những khách Trung Quốc nhập cảnh trái phép cần đón. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 08/6/2024, Nguyễn Viết H nhắn tin qua Zalo cho Nguyễn Văn A biết đã đón được 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, Nguyễn Văn A bảo Nguyễn Viết H quay video những người Trung Quốc này gửi cho Nguyễn Văn A và bảo Nguyễn Viết H đưa khách đến tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn A sẽ đón và trả tiền công cho Nguyễn Viết H. Khoảng 06 giờ 19 phút cùng ngày, Nguyễn Viết H đi đến địa phận thuộc thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và sử dụng điện thoại quay video 03 người Trung Quốc gửi cho Nguyễn Văn A. Khi Nguyễn Viết H đi đến địa phận thôn Kéo Khoác, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Sau đó, Nguyễn Văn A biết Nguyễn Viết H bị bắt nên đã bỏ trốn. Đến ngày 16/8/2024, Nguyễn Văn A đến đầu thú tại Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HS-ST ngày 26/12/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 17, Điều 58, Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106, khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A) phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
- Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng đối với bị cáo Nguyễn Văn A để nộp ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Viết H, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A) kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 08/01/2025, bị cáo Nguyễn Viết H kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 23/01/2025, bị cáo Nguyễn Viết H đã có đơn xin rút đơn kháng cáo. Ngày 24/3/2025, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã ban hành Quyết định số 19/2025/HSPT-QĐ đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A) vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo là thương binh hiện đã chết, mẹ bị cáo già yếu, bị cáo bị bệnh tiểu đường tuýp 3, suy thận, tăng huyết áp để giảm hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A) trong thời hạn luật định, đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét nội dung kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn A thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm quy kết. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới: có xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo là thương binh đã chết, mẹ bị cáo già yếu không còn khả năng lao động, hiện bị cáo mắc bệnh tiểu đường tuýp 3, suy thận, tăng huyết áp, bị cáo đã nộp tiền án phí sơ thẩm. Do vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, giảm cho bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn A mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với việc rút kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết H: Trước khi mở phiên tòa, bị cáo đã tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa đã đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Nguyễn Viết H phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”. Bản án sơ thẩm có hiệu lực thi hành đối với bị cáo kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (ngày 24/3/2025).
Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A trong hạn luật định, đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn A thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm quy kết, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Viết H, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Trong các ngày 07 và 08/6/2024, Nguyễn Văn A được đối tượng tên Long thuê chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ tỉnh Cao Bằng đến tỉnh Bắc Giang với tiền công là 5.000.000 đồng/01 chuyến, sau đó Nguyễn Văn A tiếp tục thuê Nguyễn Viết H đi chở, khi Nguyễn Viết H chở 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đi đến địa phận thuộc thôn Kéo Khoác, xã Yên Trạch, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang. Nguyễn Văn A đã được hưởng tiền công là 5.000.000 đồng, còn Nguyễn Viết H chưa nhận được tiền công.
Do có hành vi nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn A, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và gây mất ổn định xã hội tại địa phương nhất là khu vực biên giới. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được rõ hành vi tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi mà vẫn cố ý thực hiện.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Nguyễn Văn A giữ vai trò chính, sau khi được người đàn ông tên Long thuê đón 03 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam, Nguyễn Văn A đã thuê Nguyễn Viết H đi đón. Bị cáo Nguyễn Viết H là đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo Nguyễn Văn A trong việc đón và đưa khách từ tỉnh Cao Bằng đến tỉnh Bắc Giang, có vai trò thấp hơn bị cáo Nguyễn Văn A. Bị cáo Nguyễn Văn A có nhân thân xấu, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú, bố đẻ bị cáo là thương binh hạng 4/4 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn A tiếp tục thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xuất trình thêm một số tài liệu mới, thể hiện bản thân bị cáo mắc nhiều bệnh như đái tháo đường tuýp 3 có đa biến chứng, tăng huyết áp, suy thận; hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố đẻ là thương binh hạng 4/4, đã mất sớm, mẻ đẻ già yếu không có khả năng lao động; bị cáo đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo. Do vậy, xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn A cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa nói chung, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo tốt, sớm trở với gia đình và xã hội.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A);
2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 109/2024/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A), cụ thể như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 348, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A) phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A) 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn A (tên gọi khác: Nguyễn Thế A) không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ 1 TANDTC; - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Lạng Sơn (02 bản); - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Công an tỉnh Lạng Sơn; - Cục THADS tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo (theo đ/c); - Lưu HS, PHCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tự Học |