- Tranh chấp gì? án hành chính — "Ông Phạm Đình Đ khiếu kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Phạm Đình Đ; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 136 Luật Đất đai; Điều 138 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 305/2020/HC-PT Ngày 21 - 7 - 2020 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Ba
Các Thẩm phán:
Ông Tô Chánh Trung
Bà Trần Thị Thúy Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 524/2019/TLPT-HC ngày 09 tháng 10 năm 2019 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 04/2019/HC-ST ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 930/2020/QĐ-PT ngày 05 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 118/2020/QĐ-PT ngày 02 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Phạm Đình Đ, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp x, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt)
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tạ Châu L (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị T – Phó chủ tịch (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền lợi cho người bị kiện: Ông Nguyễn Hưng Thái D – Phó Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T (có mặt).
Bà Trương Thị Thu T – Phó Chánh văn phòng UBND huyện T (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1927. Địa chỉ: Ấp 1B, xã L, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông T: Ông Đặng Văn P, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số 127/31 D, phường x, quận x, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Phạm Đình Điện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/01/2019, bản tự khai của ông Phạm Đình Đ thể hiện:
Phần đất diện tích 12.852m2 thuộc thửa 92 tờ bản đồ 52 tại khu vực Cánh Buồm, ấp x, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh do ông khai phá, san lắp hố bom, cải tạo và sử dụng từ năm 1989. Năm 1993, Huyện ủy T thành lập Nông trường mía nên thu hồi toàn bộ diện tích đất này của ông. Khi thu hồi, chính quyền địa phương hứa sẽ bồi thường công sức khai phá, hoa màu, cây trồng, tài sản trên đất nhưng không thực hiện. Tháng 10/1993, Nông trường mía Huyện ủy ký hợp đồng khai hoang, trồng mía với ông Lâm Thanh H. Năm 1994, ông H sang lại hợp đồng cho ông Đặng Văn T. Năm 2000, Nông trường mía Huyện ủy giải thể, ông Đặng Văn T không tiếp tục sử dụng. Đất bỏ hoang nên tất cả người dân đều trở lại đất cũ của mình để cải tạo đất và canh tác. Ông cũng trở về đất canh tác, trồng xà cừ thu hoạch gỗ và năm 2005 trồng cao su thu hoạch cho đến nay.
Ngày 02/7/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện T ban hành Quyết định số 2793/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thi hành Quyết định số 104/QĐ-CT ngày 02/12/2003 của UBND tỉnh Tây Ninh. Ông không đồng ý nên tiếp tục khiếu nại. Ngày 30/10/2018 Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 4478/QĐ-UBND giữ nguyên quyết định 2793/QĐ-UBND, bác khiếu nại của ông. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 2793/QĐ-UBND ngày 02/7/2018 và Quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 30/10/2018 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Theo Văn bản số 364/UBND ngày 20 tháng 02 năm 2019 của người bị kiện và lời trình bày của người đại diện người bị kiện tại phiên tòa thể hiện:
Phần đất 12.852m2 ông Phạm Đình Đ đang sử dụng thuộc thửa số 92, tờ bản đồ 52 tại khu vực Cánh Buồm, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh là đất công nằm trong tổng diện tích 750 ha đất UBND tỉnh quy hoạch giao cho Nông trường 20/12 trồng mía giai đoạn năm 1987-1993. Sau đó đến giai đoạn năm 1993-1996, diện tích 750 ha đất này giao cho Nông trường mía Huyện ủy Tân Châu. Ngày 31/5/1997, UBND tỉnh Tây Ninh ban hành quyết định 116/QĐ-UB về việc giao 750 ha đất của Nông trường 20/12 cho UBND huyện T quản lý.
Ngày 05/10/1993, ông Lâm Thanh H đã ký hợp đồng khai hoang trồng mía với Nông trường mía Huyện ủy, thời hạn hợp đồng là 20 năm. Sau khi ký hợp đồng, ông H khai hoang được khoảng 02 ha sản xuất. Năm 1994, ông H không sản xuất, sang lại hợp đồng cho ông Đặng Văn T, ông Đặng Văn T tiếp tục khai hoang được 2,2 ha tổng cộng 4,2 ha. Sản xuất đến năm 2000 thì xảy ra tranh chấp đất với ông Phạm Hoàng B, ông Vũ Bá C và ông Phạm Đình Đ.
Ngày 22/5/2002, UBND huyện T ban hành Quyết định 247/QĐ-CT với nội dung: Bác đơn khiếu nại của ông B, ông C, ông Đ vì đất tranh chấp thuộc Nông trường 20/12 quản lý và thu hồi diện tích đất tranh chấp, tạm giao cho ông Đặng Văn T sử dụng, khi UBND huyện có quy hoạch sử dụng đất thì ông Đặng Văn T phải tự nguyện giao trả lại đất cho Ủy ban nhân dân huyện T. Ông B, ông C, ông Đ không đồng ý với Quyết định giải quyết của UBND huyện và tiếp tục khiếu nại. Ngày 20/02/2003, Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định số 131/QĐ-CT bác đơn khiếu nại lần 2 và giữ nguyên Quyết định 247 ngày 22/5/2002 của UBND huyện. Không đồng ý với quyết định của huyện, ông B, ông C, ông Đ tiếp tục khiếu nại. Ngày 02/12/2003, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 104/QĐ-CT, công nhận Quyết định 131 của UBND huyện T, giao UBND huyện T, có trách nhiệm quản lý, điều tiết sử dụng 750 ha đất theo Quyết định số 116/QĐ-UB ngày 31/5/1997 của UBND tỉnh.
Thực hiện Quyết định số 104/QĐ-CT ngày 30/3/2018 UBND huyện đã giao Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện phối hợp với UBND xã S, Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã S tiến hành làm việc với ông Đ để vận động, thuyết phục tự nguyện thực hiện Quyết định số 104 của UBND tỉnh Tây Ninh nhưng ông Đ không đồng ý tự nguyện thực hiện và yêu cầu xem xét lại nguồn gốc đất. Căn cứ Quyết định số 04/2017/QĐ-UBND ngày 03/02/2017 của UBND tỉnh ban hành quy định chi tiết việc cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, quyết định công nhận hòa giải thành trong giải quyết tranh chấp đất đai đã có hiệu lực pháp luật thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính tỉnh. Ngày 02/7/2018, UBND huyện ban hành Quyết định số 2793/QĐ-UBND cưỡng chế thi hành Quyết định số 104/QĐ-UBND ngày 02/12/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh đối với ông Phạm Đình Đ.
Ngày 12/7/2018, ông Đ có đơn khiếu nại Quyết định số 2793/QĐ-UBND và đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích nêu trên vì ông Đ cho rằng nguồn gốc đất là do gia đình khai phá năm 1989 và sử dụng đến năm 2000 thì phát sinh tranh chấp với ông Đặng Văn T. Đồng thời, ông Đ cung cấp chứng cứ kèm theo là giấy xác nhận của ông Lê Công M nguyên cán bộ địa chính xã S và xác nhận của 11 hộ dân liền kề về nguồn gốc đất mà trước đây ông đã sử dụng. Ngày 04/10/2018, UBND huyện T đã tổ chức đối thoại, đề nghị ông Đ thực hiện di dời toàn bộ tài sản, cây trồng có trên diện tích 12.852m2 thuộc thửa đất số 92, tờ bản đồ 52 và bàn giao đất cho huyện quản lý theo quy định. Ngày 30/10/2018, UBND huyện T ban hành Quyết định số 4478/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại đối với ông Đ với nội dung không công nhận nội dung khiếu nại của ông Đ.
Như vậy diện tích đất 12.852m2 là một phần trong tổng diện tích 42.000 m2 tại khu vực Cánh Buồm, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh mà ông B phải giao theo Quyết định số 104/QĐ-CT ngày 02/12/2003. Để tổ chức thực hiện Quyết định số 104/QĐ-CT của UBND tỉnh theo đúng quy định của pháp luật, căn cứ Quyết định số 04/2017/QĐ-UBND ngày 03/02/2017 của UBND tỉnh, ngày 02/7/2018 UBND huyện T ban hành Quyết định số 2793/QĐ-UBND, phần đất ông Đ có tranh chấp và đang thi hành nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ngày 30/10/2018, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 4478/QĐ-UBND, bác khiếu nại của ông B đối với Quyết định số 2793/QĐ-UBND là đảm bảo đúng quy định pháp luật. Do đó, Chủ tịch UBND huyện T đề nghị Tòa án giữ nguyên Quyết định 2793/QĐ-UBND ngày 02/7/2018 và Quyết định 4478/QĐ-UBND ngày 30/10/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T.
Tại Biên bản lấy lời khai của ông Đặng Văn T ngày 24/5/2019 và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của ông T anh Đặng Văn P tại phiên tòa thể hiện:
Sau khi Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh giải quyết, gia đình ông T nhiều lần liên hệ đến UBND huyện T để yêu cầu Ủy ban yêu cầu ông C, ông B, ông Đ giao đất cho ông T theo quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh. Đến năm 2017, anh P đã có đơn gửi Chủ tịch UBND huyện T yêu cầu thi hành Quyết định 104. Anh P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đình Đ, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Quyết định số 2793/QĐ-UBND về cưỡng chế thi hành Quyết định số 104 ngày 02/12/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 04/2019/HC-ST ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 5 và Điều 6 của Quyết định 04/2017/QĐ-UBND ngày 03/02/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đình Đ đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T về yêu cầu hủy Quyết định số 2793/QĐ-UBND ngày 02 tháng 7 năm 2018 và Quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 30 tháng 10 năm 2018.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/7/2019 ông Phạm Đình Đ kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, hủy Quyết định số 2793/QĐ-UBND ngày 02 tháng 7 năm 2018 và Quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại đơn kháng cáo và trước phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người khởi kiện ông Phạm Đình Đ đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện hủy Quyết định số 2793/QĐ-UBND ngày 02/7/2018 và Quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 30/10/2018 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện đề nghị bác kháng cáo của ông Phạm Đình Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm, vì kháng cáo của ông Điện không có căn cứ chấp nhận; mặt khác UBND huyện T mới có quyết định cưỡng chế, chưa tiến hành cưỡng chế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:
Về tố tụng, Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 2793/QĐ-UBND ngày 02 tháng 7 năm 2018 về cưỡng chế thu hồi đất và Quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 30 tháng 10 năm 2018 về giải quyết khiếu nại là đúng quy định pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo của ông Phạm Đình Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:
Quyết định số 2793/QĐ-UBND ngày 02/7/2018 của Chủ tịch UBND huyện T về việc cưỡng chế thi hành Quyết định số 104/QĐ-CT ngày 02/12/2003 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh và Quyết định số 4478/QĐ- UBND ngày 30/10/2018 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại đối với ông Phạm Đình Đ được ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Phần đất diện tích 12.852m2 thuộc thửa 92 tờ bản đồ 52 tại khu vực Cánh Buồm, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh hiện ông Đ đang sử dụng là đất công nằm trong tổng diện tích 750 ha đất UBND tỉnh quy hoạch giao cho Nông trường 20/12 trồng mía trong giai đoạn 1987-1993. Sau đó đến giai đoạn 1993-1996 diện tích đất này được giao cho Nông trường mía huyện ủy T. Ngày 31/5/1997 UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 116/QĐ-UB về việc giao 750ha đất của Nông trường 20/12 cho UBND huyện T quản lý.
Ngày 05/10/1993 ông Lâm Thanh H ký hợp đồng khai hoang trồng mía với Nông trường mía Huyện ủy. Năm 1994 ông H không sản xuất và sang lại hợp đồng cho ông Đặng Văn T. Đến năm 2000 xảy ra tranh chấp với ông Phạm Hoàng B, ông Vũ Bá C và ông Phạm Đình Đ.
Ngày 22/5/2002 UBND huyện T ban hành Quyết định số 247/QĐ-CT với nội dung bác đơn khiếu nại của ông B, ông C, ông Đ vì đất tranh chấp thuộc Nông trường 20/12 quản lý. Ông B, ông C, ông Đ tiếp tục khiếu nại. Ngày 20/02/2003 Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 131/QĐ-CT bác đơn khiếu nại lần 2 và giữ nguyên Quyết định 247 ngày 22/5/2002 của UBND huyện T. Không đồng ý với Quyết định của huyện, ông B, ông C, ông Đ tiếp tục khiếu nại. Ngày 02/12/2003 Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 104/QĐ-CT công nhận Quyết định 131 của UBND huyện T và giao UBND huyện T có trách nhiệm quản lý, điều tiết sử dụng 750ha đất theo Quyết định 116/QĐ-UB ngày 31/5/1997 của UBND tỉnh. Như vậy Quyết định 104 là Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng và có hiệu lực thi hành.
Ngày 18/10/2005 UBND huyện T ra Thông báo số 17/TB-UB về việc thực hiện Quyết định 104/QĐ-UB, yêu cầu ông Đ tự nguyện giao đất trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 05/10/2005 nhưng ông Đ không tự nguyện thi hành, do đó ngày 02/7/2018 Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định cưỡng chế số 2793/QĐ/CT là đúng quy định của pháp luật.
Không đồng ý với Quyết định số 2793/QĐ/UBND, ông Đ có đơn khiếu nại. Ngày 30/10/2018 Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 4478/QĐ-UBND về việc giải quyết bác yêu cầu khiếu nại của ông Đ là có căn cứ và đúng pháp luật.
Ông Đ kháng cáo cho rằng việc UBND huyện T cưỡng chế cưa chặt cây cao su di dời toàn bộ cây trồng trên đất mà không bồi thường giá trị tài sản và tiền công khai phá tôn tạo đất là thiệt thòi cho ông là không có căn cứ vì đất này trước đây là đất công, sau đó nhà nước giao cho Nông trường mía 20/12 quản lý; trước khi thi hành quyết định cưỡng chế UBND huyện đã dành thời gian để gia đình ông Đ tự thu xếp nên ông Đ phải chịu trách nhiệm khi cơ quan nhà nước tiến hành việc cưỡng chế.
Tại đơn kháng cáo và trước phiên tòa phúc thẩm, ông Đ không cung cấp được chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu của mình nên Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện và giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hành chính phúc thẩm: ông Đ phải chịu theo quy định của pháp luật án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Phạm Đình Đ; giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
Căn cứ khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Điều 5 và Điều 6 Quyết định số 04/2017/QĐ-UBND ngày 03/02/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh; khoản 1 Điều 8 Luật khiếu nại năm 2011; điểm a khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 2 Điều 138 Luật đất đai năm 2003; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Đình Đ đối với Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T về yêu cầu hủy Quyết định số 2793/QĐ-UBND ngày 02 tháng 7 năm 2018 và Quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 30 tháng 10 năm 2018.
2. Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phạm Đình Đ phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, tạm nộp án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0000979 ngày 04/7/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
4. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Cục THADS tỉnh Tây Ninh; - Các đương sự (3); - Lưu Văn phòng, hồ sơ vụ án (ĐTT-15b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Hữu Ba |