- Tranh chấp gì? án hành chính — "Triệu Trung H kiện Chủ tịch UBND quận T"
- Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Triệu Trung H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 193 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 194 Luật Tố tụng Hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 305/2018/HC-PT Ngày: 17/8/2018 V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Mai Thị Tú Oanh
Các thẩm phán:
Ông Đặng Văn Thành
Ông Đặng Quốc Khởi
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Yến – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2018/TLPT-HC ngày 04 tháng 4 năm 2018 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”.
Do bản án hành chính sơ thẩm số: 1676/2017/HC-ST ngày 25 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 650/2018/QĐ - PT ngày 28 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Triệu Trung H – Có mặt
Địa chỉ: Đường N, Phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ liên lạc: Đường N1, Khu phố Y, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện: Luật sư Nguyễn Hồng N; Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T
Địa chỉ: Đường N, phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện:
1/ Ông Phạm Văn T1 – Có mặt.
2/ Ông Trần Thành T2 – Có mặt.
3/ Bà Trương Mỹ P – Có mặt
- Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Triệu Trung H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện - ông Triệu Trung H trình bày:
Quyết định số 3239/QĐ-CC ngày 01/6/2017 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) quận T nhằm cưỡng chế đối với công trình xây dựng của ông H tại Đường số 6, khu phố 2, phường H, quận T, thuộc 1 phần thửa 101, tờ bản đồ số 80. Theo ông H thì công trình trên đã được xây dựng từ năm 2012. Vào 21/12/2012, công trình trên đã bị Thanh tra xây dựng quận T lập biên bản vi phạm hành chính.
Ngày 05/5/2014, UBND quận T đã phạt ông H 6.250.000 đồng theo Quyết định 2932/QĐ-XPVPHC. Ngày 13/5/2014, ông H đã thực hiện việc nộp phạt
Ngày 17/4/2017, UBND phường H lập biên bản vi phạm công trình xây dựng của ông H.
Ngày 17/5/2017 UBND quận T ban hành Quyết định số 2954/QĐ-KPHQ ngày 17/5/2017 (Quyết định 2954/QĐ-KPHQ) nhằm yêu cầu khắc phục hậu quả
Ngày 01/6/2017, Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 3239/QĐ-CC (Quyết định 3239/QĐ-CC) nhằm cưỡng chế thi hành quyết định khắc phục hậu quả.
Theo ông H, công trình của ông đã bị xử phạt mà không buộc tháo dỡ. Đến 17/4/2017 UBND phường H lập biên bản vi phạm và buộc tháo dỡ là không đúng quy định và thời hiệu xử lý đối với công trình nêu trên đã hết
Nay ông Triệu Trung H yêu cầu hủy Quyết định số 2954/QĐ-KPHQ ngày 17/5/2017 và Quyết định số 3239/QĐ-CC ngày 01/6/2017 của Chủ tịch UBND quận T
Người bị kiện - Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận T, trình bày ý kiến tại Văn bản số 3688/UBND-QLĐT ngày 25/8/2017:
- Đối với Quyết định số 2954/QĐ-KPHQ ngày 17/5/2017: Ngày 17/4/2017, UBND phường H lập BBVP hành chính số 83/BB-VPHC đối với ông Triệu Trung H, địa điểm công trình vi phạm: Đường 6, khu phố 2, phường H, thuộc 1 phần thửa 101, tờ bản đồ 80 phường H, do có hành vi xây dựng công trình mà không có giấy phép xây dựng, thời điểm vi phạm là tháng 02/2013. Vào các năm 2014, phía Ủy ban có tiến hành kiểm tra và ra Quyết định đình chỉ thi công số 93/QĐ-UBND ngày 26/2/2013 và Quyết định cưỡng chế số 102/QĐ-UBND ngày 5/3/2013 đối với công trình nêu trên. Nhưng do có sai sót trong quá trình lập biên bản nên Ủy ban đã ra các quyết định thu hồi các quyết định trên theo Quyết định số 96/QĐ-UBND ngày 06/3/2014
Ngày 05/5/2014, Chủ tịch UBND quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2932/QĐ-XPVPHC, yêu cầu ông H phải nộp số tiền phạt 6.250.000 đồng. Ông H đã thi hành quyết định trên. Ngày 25/8/2014, Chủ tịch UBND quận T ban hành quyết định số 5504/QĐ-UBND thu hồi Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2932/QĐ-XPVPHC ngày 05/5/2014. Đối với số tiền ông H đã thi hành theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2932/QĐ-XPVPHC thì ông H liên hệ Kho bạc để nhận lại.
Ngày 18/4/2017, UBND phường H có Công văn số 563/UBND đề nghị UBND quận T xử lý VPHC đối với ông Triệu Trung H
Trên cơ sở đó, Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 2954/QĐ-KPHQ áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Triệu Trung H.
- Đối với Quyết định số 3239/QĐ-CC: Do ông H không chấp hành biện pháp khắc phục hậu quả là phá dỡ phần công trình vi phạm theo nội dung quyết đinh 2954. Do đó, ngày 01/6/2017, Chủ tịch UBND quận T ban hành Quyết định số 3239/QĐ-CC về việc cưỡng chế quyết định số 2954.
Tuy nhiên qua kiểm tra, Chủ tịch UBND quận T nhận thấy Quyết định số 3239/QĐ-CC có sai sót trong khâu đánh máy do đó Chủ tịch UBND quận T đã ban hành Quyết định số 4296/QĐ-UBND ngày 14/7/2017 về việc điều chỉnh quyết định số 3239/QĐ-CC ngày 01/6/2017 của Chủ tịch UBND quận T. Người bị kiện đề nghị giữ nguyên các quyết định đã ban hành
Tại bản án hành chính sơ thẩm 1676/2017/HC-ST ngày 25 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Áp dụng: Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194, 206 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015;
Điều 30, điểm d khoản 1 Điều 80 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
Điểm b khoản 2, khoản 8 Điều 11 Nghị định 23/2009/NĐ-CP ngày 27/02/2009 của Chính Phủ;
Khoản 1 Điều 5 Nghị định 64/2012/NĐ-CP ngày 04/ 9/ 2012 của Chính phủ;
Khoản 1 Điều 12 Nghị định 180/2007/NĐ-CP ngày 07/ 12/ 2007 của Chính Phủ;
Áp dụng khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009;
Xử:
Không chấp nhận khởi kiện của ông Triệu Trung H, yêu cầu hủy Quyết định số 2954/QĐ-KPHQ ngày 17/5/2017 về khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra và Quyết định 3239/QĐ-CC ngày 01/6/2017 về cưỡng chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận T.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/12/2017 người khởi kiện ông Triệu Trung H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện không rút đơn khởi kiện và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện trình bày: Do đất nằm trong quy hoạch nên Uỷ ban nhân dân quận T không cho chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Do nhu cầu khó khăn về nhà ở nên ông H phải xây nhà. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Mặt khác, về thủ tục tố tụng, cấp sơ thẩm không yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện cung cấp lý lịch tư pháp là không đầy đủ. Cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng rất nhiều. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm để giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Hai quyết định bị kiện của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận T ban hành là đúng trình tự thủ tục, đúng thẩm quyền và đúng nội dung. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Xét kháng cáo của người khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy: Cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Trung H về yêu cầu hủy quyết định số 2954/QĐ-KPHQ ngày 17/5/2017 về khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra và quyết định 3239/QĐ-CC ngày 01/6/2017 về cưỡng chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận T là có cơ sở, bởi lẽ:
- Đối với quyết định 2954/QĐ-KPHQ:
Về thời hiệu ban hành quyết định: Ngày 17/4/2017 của tổ công tác Uỷ ban nhân dân phường H lập biên bản vi phạm hành chính đối với công trình xây dựng không phép của ông Triệu Trung H. Ngày 18/4/2017 Uỷ ban nhân dân phường H đã có công văn số 563/UBND đề nghị Uỷ ban nhân dân quận T xử lý vi phạm hành chính đối với ông H. Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 07 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với những vụ việc phức tạp thì thời hạn ban hành quyết định xử phạt là 30 ngày. Do đã hết thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận T ban hành quyết định 2954/QĐ-KPHQ ngày 17/5/2017 áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, buộc ông H phải tháo dở công trình xây dựng không phép là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về nội dung: Công trình xây dựng là nhà ở riêng lẻ tại đô thị bắt buộc phải có giấy phép xây dựng. Điều kiện để được cấp phép xây dựng đối với loại công trình trên là phải phù hợp với mục đích sử dụng đất. Tuy nhiên, công trình nhà ở có diện tích 59,06 m2 của ông H được xây dựng trên đất của hộ ông Phạm Văn A, đã được Uỷ ban nhân dân quận T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01106/QSDĐ ngày 26/7/2004 loại đất nông nghiệp (HNK), không đủ điều kiện để được cấp giấy phép xây dựng. Do đó, việc chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận T ban hành quyết định 2954/QĐ-KPHQ buộc ông H phải tháo dỡ công trình xây dựng không phép là đúng.
- Đối với quyết định 3239/QĐ-CC: Quyết định 2954/QĐ-KPHQ quy định thời hạn 10 ngày buộc đương sự phải tự nguyện thi hành. Do ông H không chấp hành biện pháp khắc phục hậu quả là tháo dỡ công trình vi phạm nên ngày 01/6/2017 Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận T ban hành quyết định cưỡng chế số 3239/QĐ-CC là phù hợp với quy định tại điểm d khoản 1 Điều 86 Luật xử phạt vi phạm hành chính.
Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là không có cơ sở để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Triệu Trung H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính 2015,
1/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Triệu Trung H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Áp dụng: Điều 116, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194, 206 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Trung H về việc hủy Quyết định số 2954/QĐ-KPHQ ngày 17/5/2017 về khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra và Quyết định 3239/QĐ-CC ngày 01/6/2017 về cưỡng chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận T.
2/ Án phí hành chính phúc thẩm 300.000 đồng, ông Triệu Trung H phải chịu (được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, biên lai thu số 0048790 ngày 02/02/2018).
3/ Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết tời hạn kháng cáo, kháng nghị
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Cục THADS TP.HCM; - NKK (1); -NBK (1); - Lưu (3) 13b (Án39). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Tú Oanh |