- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 305/2018/DS-ST Ngày: 17-7-2018 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Thành Viên
Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thành Phong – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2018/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2018/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 207/2018/QĐHPT-ST ngày 28 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T, địa chỉ: Đường A, phường B, quận C, Thành phố Hà Nội
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Nguyễn Quang T, trú tại: Đường D, phường E, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số: 90/2018/UQ-GĐK-TDTD ngày 10 tháng 11 năm 2017). (Có mặt).
2.Bị đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm: 1981, địa chỉ cư trú: Đường G, phường H, quận I, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 01 tháng 11 năm 2017 của Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T (Sau đây viết tắt là ngân hàng) và quá trình giải quyết vụ án ông Trần Nguyễn Quang T là đại diện của nguyên đơn trình bày giữa ngân hàng và bà Nguyễn Thị X có ký kết hợp đồng tín dụng số 20141207-500001-0058 ngày 01/12/2014, theo hợp đồng thì bà X vay ngân hàng số tiền 35.700.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà X có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc 35.700.000 đồng và tiền lãi 29.907.000 đồng, tổng cộng gồm cả gốc và lãi là 65.607.000 đồng, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả 1.824.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.767.000 đồng, thanh toán vào ngày 12 hàng tháng, bắt đầu trả từ ngày 12/01/2015, cụ thể là [1.824.000 đồng x 35 kỳ + 1.767.000 đồng (Kỳ 36) = 65.607.000 đồng]. Thực hiện hợp đồng, bà X đã nhận đủ số tiền và thanh toán cho ngân hàng 17 kỳ với số tiền 31.008.000 đồng. Kể từ ngày 09/5/2016, bà X không thanh toán bất cứ khoản nào dù ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà X trả một lần số tiền nợ gốc 24.444.651 đồng và nợ tiền lãi 10.154.349 đồng, tổng cộng: 34.599.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bà X trả tiền nợ gốc và tiền lãi tổng cộng: 34.599.000 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà X có trách nhiệm tiếp tục trả lãi cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số: 20141207-500001-0058 ngày 01/12/2014 tương ứng với số tiền chưa thanh toán cho đến khi bà X trả nợ xong.
Ngoài ra, đại diện nguyên đơn xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Hội đồng xét xử, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
Bà X là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã chấp hành đúng và đầy đủ nội dung quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về phiên toà sơ thẩm.
Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Buộc bà Nguyễn Thị X có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền nợ gốc 24.444.651 đồng và nợ tiền lãi 10.154.349 đồng, tổng cộng: 34.599.000 (Ba mươi bốn triệu, năm trăm chín mươi chín ngàn) đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà X có trách nhiệm tiếp tục trả lãi cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số: 20141207-500001-0058 ngày 01/12/2014 tương ứng với số tiền chưa thanh toán cho đến khi bà X trả nợ xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày của đương sự tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, Tòa án nhận định:
. Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Đây là vụ án tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn cư trú tại số: Đường G, phường H, quận I, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về người tham gia tố tụng: Do đương sự: Bà X vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự nêu trên.
. Xét yêu cầu của đương sự: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ngân hàng thấy rằng, hợp đồng tín dụng số: 20141207-500001-0058 ngày 01/12/2014 mà ngân hàng ký kết với bà X là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005 về nội dung lẫn hình thức của hợp đồng.
Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số: 20141207-500001-0058 ngày 01/12/2014, bảng sao kê kế hoạch trả nợ tổng cộng gồm 36 kỳ và lịch sử thanh toán nợ của bà X thì việc ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà X thanh toán số tiền còn nợ là có cơ sở để xem xét. Sau khi vay tiền của ngân hàng thì bà X phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi hàng tháng nhưng bà X không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết là vi phạm khoản 3 Điều 4 của hợp đồng đã ký kết. Do đó, yêu cầu của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa buộc bà X phải hoàn trả cho ngân hàng số tiền nợ gốc 24.444.651 đồng và nợ tiền lãi 10.154.349 đồng, tổng cộng: 34.599.000 cho ngân hàng là cơ sở để chấp nhận.
Đối với khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ngân hàng yêu cầu bà X có trách nhiệm tiếp tục trả lãi cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số: 20141207-500001-0058 ngày 01/12/2014 là có cơ sở theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nghĩ buộc bà X trả cho ngân hàng số tiền 34.599.000 đồng theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 20141207-500001-0058 ngày 01/12/2014, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là thỏa đáng và phù hợp với quy định tại Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà X phải chịu là 34.599.000 x 5% = 1.729.950 đồng.
Hoàn lại cho ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền tạm ứng án phí là 864.975 đồng theo biên lai thu số: AA/2017/0019666 ngày 02/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, Điều 21, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 471, khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Điều 351, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T.
1. Buộc bà Nguyễn Thị X có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền nợ gốc 24.444.651 đồng và nợ tiền lãi 10.154.349 đồng, tổng cộng: 34.599.000 (Ba mươi bốn triệu, năm trăm chín mươi chín ngàn) đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị X phải chịu là 1.729.950 (Một triệu, bảy trăm hai mươi chín ngàn, chín trăm năm mươi) đồng.
Hoàn lại cho ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam T số tiền tạm ứng án phí là 864.975 (Tám trăm, sáu mươi bốn ngàn, chín trăm bảy mươi lăm) đồng theo biên lai thu số: AA/2017/0019666 ngày 02/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được tống đạt hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -Đương sự; -Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; -Chi cục thi hành án dân sự cùng cấp; -Lưu hồ sơ vụ án. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | Trần Mạnh Cường |