vanban.org

Bản án 304/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H.

Buộc ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền hụi còn thiếu là 27.000.000 đồng. Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông K, bà T chậm thi hành đối với phần tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 B… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 304/2024/DS-ST
Ngày: 29/8/2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông NGUYỄN VĂN BÌNH

2. Ông HUỲNH VĂN MINH

- Thư ký phiên tòa: Ông CAO TRẦN KHẮC HUY - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Không có.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 343/2024/TLST–DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 318/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1980 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2.Bị đơn: Ông Lê Văn K, sinh năm 1967 (Vắng mặt)

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cùng ngày 21/6/2024 và lời khai tại Tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày:

Chị tham gia 01 dây hụi do ông K, bà T làm đầu thảo, cụ thể: Dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 30/01/2022, 01 tháng khui 01 lần, có 16 hụi viên, chị vô 01 phần, chị đã đóng hụi sống được 15 kỳ là 30.000.000 đồng, trừ tiền đầu thảo 200.000 đồng, nên ông K, bà T còn nợ lại là 29.800.000 đồng.

Chị yêu cầu ông K, bà T liên đới trả số tiền hụi còn thiếu là 29.800.000 đồng.

Bị đơn Lê Văn K, Nguyễn Thị T không có văn bản ý kiến và vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, chị H rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ông K, bà T liên đới trả số tiền 27.000.000 đồng, không yêu cầu trả số tiền 2.800.000 đồng; Ông K, bà T vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Bị đơn vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Tòa triệu tập hợp lệ lần hai, căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2] Xét, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Về nội dung:

[3] Xét, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, tại Tòa, nguyên đơn đã khẳng định thực tế bị đơn có tham gia 01 dây hụi như đã nêu trên tại phần nội dung vụ án. Hiện bị đơn còn thiếu lại 15 kỳ hụi là 27.000.000 đồng.

Đồng thời, quá trình thụ lý vụ án Toà đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn theo luật định nhưng bị đơn vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, bị đơn cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện sự không phản bác đối với việc khởi kiện của nguyên đơn cũng như đối với các chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp tại Tòa.

Từ đó, Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải có trách nhiệm liên đới trả cho chị H số tiền hụi còn thiếu là 27.000.000 đồng theo quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Bị đơn phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 92, 227, 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 288, 357, 468, 471 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thúy H.

Buộc ông Lê Văn K, bà Nguyễn Thị T phải chịu trách nhiệm liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Thúy H số tiền hụi còn thiếu là 27.000.000 đồng.

Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông K, bà T chậm thi hành đối với phần tiền thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện của chị H yêu cầu ông K, bà T liên đới trả số tiền hụi 2.800.000 đồng.

Về án phí:

Ông K, bà T phải liên đới chịu 1.350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho chị H số tiền 745.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015525 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ