- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đang Thi Th xin ly hon voi Tran Van V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Th được ly hôn với anh Trần Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 304/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07 - 9 - 2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Văn Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Triệu Thị Hà;
2. Bà Lộc Thị Kim Thơm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thuý - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 242/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08/8/2023 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đặng Thi Th, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Xóm 11, xã Tân L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
- Bị đơn: Anh Trần Văn Vụ, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Xóm 11, xã Tân L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
(Chị Th và anh Vcó đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Đặng Thi Th trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn V sau một thời gian tìm hiểu đã quyết định đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 01/12/2007 và được cưới hỏi theo phong tục địa phương chúng. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống, làm ăn tại xã Tân L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mẫu thuẫn do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống dẫn đến tình cảm vợ chồng không hợp nhau, không tin tưởng quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể về chung sống cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc được, nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn V.
- Về con chung: Chị và anh có 02 con chung là cháu Trần Quang H, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Trần Ngân H1, sinh ngày 28/12/2011. Sau khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Chị Đặng Thi Th xác định tự thoả thuận.
- Về công nợ chung: Chị Đặng Thi Th xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Văn V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đặng Thị Th sau một thời gian tìm hiểu đã quyết định đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Anh chị đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang vào năm 2007. Việc kết hôn được 2 bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống, làm ăn tại xã Tân L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Anh xác định cuộc sống hôn nhân không còn tình cảm, không có tiếng nói chung. Nay chị Th có đơn xin ly hôn, anh nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Thị Th.
- Về con chung: Anh và chị Th có 02 con chung là cháu Trần Quang H, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Trần Ngân H1, sinh ngày 28/12/2011. Sau khi ly hôn, anh nhất trí để chị Thùy là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục hai con chung.
- Về tài sản chung: Anh Trần Văn V xác định tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về công nợ chung: Anh Trần Văn V xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của chị Đặng Thị Th là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Th, xử cho chị Đặng Thị Th được ly hôn với anh Trần Văn V. Về con chung: Giao cháu Trần Quang H, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Trần Ngân H1, sinh ngày 28/12/2011 cho chị Đặng Thị Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trần Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn. Về tài sản và vay nợ chung: Chị Đặng Thị Th và anh Trần Văn V không yêu cầu giải quyết, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Đặng Thị Thùy phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đặng Thị Th và anh Trần Văn V đều đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị Th và anh Trần Văn V kết hôn với nhau từ năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân L, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 01/12/2007, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Như vậy hôn nhân giữa chị Đặng Thị Thùy và anh Trần Văn Vlà hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án chị Đặng Thị Th xác định cuộc sống chung vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng không thể hòa hợp được, nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó đến nay. Anh V nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị Thùy. Do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th với anh V là phù hợp với quy định tại Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Đặng Thị Th và anh Trần Văn Vcó 02 con chung là cháu Trần Quang H, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Trần Ngân H1, sinh ngày 28/12/2011. Quá trình giải quyết vụ án chị Th có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai cháu đến khi trưởng thành. Anh V nhất trí để chị Th nuôi dưỡng cả hai cháu. Hội đồng xét xử thấy rằng tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Quá trình giải quyết vụ án qua hỏi ý kiến của cháu H và cháu H1 thì các cháu có nguyện vọng được ở với chị Th. Do vậy để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của các cháu cần giao cháu Trần Quang H và cháu Trần Ngân H1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Do chị Th không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Các đương sự xác định tự thỏa thuận, không yêu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về công nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị Đặng Thùy Thùy phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 28; 35, 39,147; 207; 227; 228; 235; 238; 266; 267; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56; 81; 82; 83; 84 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đặng Thị Th được ly hôn với anh Trần Văn V.
- Về con chung: Giao cháu Trần Quang H, sinh ngày 08/8/2008 và cháu Trần Ngân H1, sinh ngày 28/12/2011 cho chị Đặng Thị Th được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Trần Văn V không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Đặng Thị Th phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000658, ngày 08 tháng 8 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Chị Đặng Thị Th đã nộp đủ án phí.
Anh Trần Văn V không phải nộp án phí.
Chị Đặng Thị Th và anh Trần Văn V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - Chi cục THADS huyện Yên Sơn; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mạc Văn Tuyến |