- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơn - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Phạm Xuân S phạm tội “Dâm ô đối với ngƣời dƣới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 146 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 304/2022/HSST Ngày 21/10/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thúy;
Các hội thẩm nhân dân:
1- Ông Nguyễn Văn Thư- Nguyên giảng viên Trường đại học Hà Nội;
2- Ông Nguyễn Gia Phúc- Trưởng khoa công nghệ thông tin Trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Phương Ly- Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Lương Thúy Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 288/TLST-HS ngày 05/10/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Xuân S, sinh năm 1955; Giới tính: Nam; ĐKHKTT: Tổ 12, phố Phú Bình, phường Phong Châu, thị xã P, tỉnh P; Chỗ ở: Số 13, ngách 41, ngõ TH 1, phường H, quận Đống Đa, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Phạm Văn B (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Ng (đã chết); Vợ: Trần Thị M; Có 02 con: lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không.
Danh chỉ bản số 413, lập ngày 22/7/2022 tại Công an quận Đống Đa. Bị cáo đầu thú ngày 16/7/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Cháu Phạm Lê Trúc D, sinh ngày 25/12/2016; ĐKHKTT: Số 3B, DT, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Nơi cư trú: Số 4, ngách 41, ngõ TH 1, phường H, quận Đống Đa, Hà Nội. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Phạm Ngọc Tr (bố đẻ), sinh năm 1994; ĐKHKTT: Số 3B, DT, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; Nơi cư trú: Số 4, ngách 41, ngõ TH 1, phường H, quận Đống Đa, Hà Nội. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Bích Huyền-Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18giờ vào một ngày tháng 5/2022, Phạm Xuân S đang ở nhà tại địa chỉ số 13, ngách 41, ngõ TH 1, phường H, quận Đống Đa, Hà Nội thì thấy cháu Phạm Lê Trúc D (tên gọi ở nhà là Tép) đi bộ từ trong nhà ra. Thấy vậy, S đi lại gần và dùng 2 tay bế cháu D ngồi lên yên 01 chiếc xe máy đang dựng trước cửa nhà số 6, ngách 41, ngõ TH 1. Lúc này, chiếc xe máy đang dựng bằng chân trống bình thường, đầu xe hướng vào ngõ cụt, đuôi xe hướng ra ngoài. S bế cháu D đặt cháu ngồi lên yên xe máy, 2 chân cháu D để cùng về 1 phía bên trái xe máy, lưng cháu D hướng về phía nhà số 6, mặt cháu D hướng về phía nhà S. Tiếp theo, S dùng tay trái sờ vào lưng cháu D, tay phải bắt đầu sờ từ đùi cháu D trở lên và sờ vào bộ phận sinh dục của cháu D qua quần của cháu. S đứng sờ vào bộ phận sinh dục của cháu D khoảng 1-2 phút (S không nhớ chính xác có cho tay vào quần của cháu D để sờ vào bộ phận sinh dục của cháu hay không) thì S thấy bà Nguyễn Thị Cẩm L (sinh năm 1968; ĐKHKTT: 3B DT, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội - là bà nội của cháu D) đang dắt xe máy từ trong nhà đi ra, nên S dừng lại, bế cháu D xuống dưới đất và đi về nhà.
Đến khoảng 19giờ ngày 15/7/2022, S đi bộ đi làm về nhà thì nhìn thấy cháu D đang đứng trong nhà tại địa chỉ số 4, ngách 41, ngõ TH 1, phía sau cửa sắt đang khóa. Thấy vậy, S đi lại gần dùng tay phải để túm vào tay của cháu D đang vịn vào cửa sắt với mục đích để trêu cháu D thì cháu D rụt tay lại và chạy vào trong nhà. Ngay sau đó, mẹ của cháu D là chị V đi ra nhìn S rồi đi vào nhà. Sau đó, S đi về nhà. Đến khoảng 20giờ cùng ngày, bà L cùng gia đình cháu D sang nhà S mời sang nhà bà L để nói chuyện. Tại đây, gia đình bà L nói rằng S có hành vi dâm ô đối với cháu D từ trước đó. S thừa nhận và xin lỗi gia đình bà L.
Ngày 15/7/2022, chị Lê Thị V (sinh năm 1994; ĐKHKTT: 3B DT, phường P, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội - là mẹ đẻ cháu Phạm Lê Trúc D) đến Công an phường H trình báo về việc Phạm Xuân S có hành vi dâm ô đối với con gái chị.
Đến khoảng 16giờ 30phút ngày 16/7/2022, Phạm Xuân S đến Công an phường H đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. S khai nhận chỉ có 01 lần có hành vi dâm ô đối với cháu Phạm Lê Trúc D.
Cháu Phạm Lê Trúc D khai: S có khoảng 10 lần có hành vi dâm ô đối với cháu D vào các khoảng thời gian khác nhau, nhưng do cháu D còn nhỏ nên không thể nhớ thời gian cụ thể.
Ngoài lời khai của cháu D, không còn tài liệu nào khác nên không đủ cơ sở chứng minh việc S đã có hành vi dâm ô đối với cháu D nhiều lần.
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định pháp y tình dục đối với cháu Phạm Lê Trúc D. Tại bản Kết luận giám định pháp y tình dục số 996/TTPY của Trung tâm pháp y - Sở Y tế Hà Nội kết luận:
1. Tại thời điểm giám định trên cơ thể cháu Phạm Lê Trúc D không có vết sây sát sưng nề bầm tím, không rách da chảy máu. Vì vậy, không có điểm tỷ lệ tổn hại sức khỏe. Không xác định cơ chế hình thành thương tích.
2. Bộ phận sinh dục ngoài của cháu Phạm Lê Trúc D bình thường tương đương theo độ tuổi, lông mu chưa có. Vùng âm hộ, tầng sinh môn, không có vết sây sát sưng nề bầm tím. Màng trinh không có vết rách cũ và mới, không có vết sây sát bầm tím, không có vết rách da chảy máu.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường về dân sự và đề nghị xét xử bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
- Tại Bản cáo trạng số 285/CT-VKSĐĐ, ngày 30/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Phạm Xuân S về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Xuân S mức án từ 06 tháng tù đến 10 tháng tù. Về vật chứng: Không. Về trách nhiệm dân sự: đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tại phiên tòa, đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường và đề nghị xét xử bị cáo theo đúng quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ý kiến của đại diện bị hại, xét xử bị cáo với mức án nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những căn cứ xác định tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, lời khai bị hại, người liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Khoảng tháng 5/2022, Phạm Xuân S có hành vi dâm ô, dùng tay sờ vào bộ phận sinh dục của cháu Phạm Lê Trúc D (Sinh ngày 25/12/2016) tại trước cửa nhà số 6, ngách 41, ngõ TH 1, phường H, quận Đống Đa, Hà Nội.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em, ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo là người lớn tuổi, lẽ ra phải có hành vi đúng mực nhưng vì dục vọng nhất thời đã có hành vi xâm phạm đến thân thể của trẻ em mới 6 tuổi, là độ tuổi chưa phát triển đầy đủ về nhận thức, tâm sinh lý gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của trẻ em. Vì vậy cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 146 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không đảm nhiệm chức vụ gì trong cơ quan nhà nước hay các tổ chức xã hội, bị cáo làm nghề tự do; vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Phạm Xuân S phạm tội “Dâm ô đối với ngƣời dƣới 16 tuổi”.
1- Áp dụng khoản 1 Điều 146; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Xuân S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/7/2022.
* Về hình phạt bổ sung: Không.
2- Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Xuân S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3- Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo, đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại; - VKS ND quận Đống Đa; - VKSND TP Hà Nội; - TAND TP Hà Nội; - Công an quận Đống Đa; - Chi cục THADS quận Đống Đa; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phƣơng Thúy |