- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản và tràng trữ ma túy - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 304/2022/HS-ST Ngày: 27/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quang;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Quỳnh và bà Lê Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 321/2022/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 314/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn Th, sinh năm: 1987 tại Hà Nội; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn Vạn Mỹ, xã Trung Châu, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn D, sinh năm 1953 và con bà Trần Thị M, sinh năm 1951; có vợ là Nguyễn Thị Bích H (đã ly hôn) và có 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2011, UBND quận Hoàn Kiếm đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bản án số 68/2018/HSST ngày 26/11/2018 Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 7 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 04/10/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
Bị hại: Chùa S, địa chỉ: quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Người đại diện: Ông Trần Văn Th. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện ma túy và không có việc làm ổn định nên Trần Văn Th điều khiển xe máy nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 21B1-141.19 đi lang thang vào ban đêm tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 01/10/2022, Th điều khiển xe máy đi đến khu vực đường đê Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, trên đường đi Th nhặt được một thanh sắt dài khoảng 50cm và mang theo. Khi đến đình Thượng Cát, quan sát thấy không có người nên Th dựng xe ở ngoài rồi cầm theo thanh sắt trèo vào bên trong sân đình. Th cậy khóa phòng thờ rồi đi vào bên trong tìm kiếm, phát hiện có một két sắt nhưng thấy kiên cố không phá được nên Th bỏ ra ngoài. Sau đó, Th tiếp tục cầm thanh sắt trèo qua tường đi sang sân chùa S. Sau khi đi lòng vòng quan sát, Th nhặt được một con dao dài khoảng 50cm, bản rộng 05 cm và mang theo. Sau đó, Th cậy khóa một số phòng thờ nhưng không lấy được tài sản gì, Th đi vào một phòng ngủ và lục lọi rồi dùng con dao cậy phá két sắt trong phòng nhưng bên trong két sắt không có tài sản. Sau đó, Th sang phòng thờ Tam bảo và dùng thanh sắt cậy khóa các hòm công đức lấy toàn bộ tiền trong các hòm công đức được khoảng 17.720.000 đồng, bao gồm nhiều mệnh giá khác nhau rồi cho tiền vào túi xách và bỏ ra ngoài. Đến khoảng 8 giờ 30 phút ngày 02/10/2022, Th mang tiền trộm cắp có mệnh giá 1.000 đồng, 2.000 đồng, 5.000 đồng, một số tờ 10.000 đồng đến cửa hàng Winmart ở đường Vạn Kiếp, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội gặp chị Đặng Thị Huyền để đổi sang tiền có mệnh giá lớn được 2.000.000 đồng. Sau đó, Th lấy tiền trộm cắp để chi tiêu sinh hoạt, tiêu xài hết 500.000 đồng. Đến sáng ngày 03/10/2022, Th đến khu vực đê sông Hồng (không rõ vị trí cụ thể) ở quận Hoàn Kiếm mua của một nam thanh niên không quen biết 200.000 đồng ma túy heroine và 300.000 đồng ma túy methamphetamine, Th cất ma túy mua được vào trong ví để sử dụng dần. Ngày 02/10/2022 ông Bùi Văn Thịnh là tu sĩ tại chùa S trình báo. Đến ngày 04/10/2022 Th bị bắt khẩn cấp. Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của Trần Văn Th: 16.720.000 đồng; 01 túi xách màu đen kích thước 30x40x70 cm; 01 ví da màu nâu kích thước khoảng 23x9 cm; 01 xe máy kiểu dáng Honda Dream màu nâu, BKS 21B1-141.19, số khung và số máy của xe bị đục, tẩy xóa không xác định được; 01 điện thoại di động kiểu dáng Mobell màu đen, lắp số điện thoại xxxxxxxxxx, imei: 810231600025879; 01 gói ni lông màu trắng trong kích thước khoảng (2,5x2,5) cm bên trong chứa các tinh thể màu trắng; 01 gói giấy màu vàng kích thước khoảng (1,5x1) cm bên trong chứa chất bột màu trắng.
Thu giữ của ông Bùi Văn Th: 01 con dao dài khoảng 50cm, phần chuôi dao bằng sắt hình trụ dài khoảng 10 cm, từ sống dao tới lưỡi dao rộng khoảng từ 2 cm tới 5 cm, phần đầu của lưỡi dao bị sứt mẻ.
Kết luận giám định số 7017/KL-KTHS ngày 10/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói ni lông màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,132 gam.
- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu vàng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,143 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Văn Th khai nhận hành vi như nêu trên và khai mục đích trộm cắp tài sản là để lấy tiền tiêu xài, ma túy mang theo với mục đích để sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với két sắt và các hòm công đức bị cạy phá, đại diện chùa S ông Bùi Văn Th xác định vẫn còn sử dụng được, do thiệt hại không đáng kể nên không đề nghị định giá tài sản, đối với số tiền bị trộm cắp để ở trong hòm công đức nên không xác định được cụ thể. Ngày 31/10/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định xử lý vật chứng trả số tiền 16.720.000 đồng cho chùa S, người đại diện chùa S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Đối với đối tượng bán ma túy: Trần Văn Th khai mua ma túy trên đê sông Hồng nhưng không nhớ địa điểm cụ thể, không rõ nhân thân lai lịch của người bán ma túy nên không có căn cứ để mở rộng điều tra. Chị Đặng Thị Huyền đổi tiền cho Trần Văn Th nhưng không biết nguồn gốc tiền là do Th trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với xe máy kiểu dáng Honda Dream màu nâu đeo BKS 21B1-141.19 thu giữ của Trần Văn Th:
Kết luận giám định số 7851/KL-KTHS ngày 21/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành Hà Nội kết luận:
- Xe mô tô dán nhãn hiệu Honda Dream đeo biển kiểm soát 21B1-141.19: Số khung hiện tại có dấu vết tẩy xóa. Không xác định được số khung nguyên thủy của xe; Số máy hiện tại có dấu vết tẩy xóa. Xác định số máy nguyên thủy: VLFPD1P50FMG-3 5A1B0525 .
- Không giám định biển kiểm soát 21B1-141.19 do không có mẫu so sánh.
Tra cứu biển kiểm soát 21B1-141.19 xác định biển kiểm soát trên là vật chứng trong vụ án trộm cắp tài sản xảy ra tại địa bàn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 16/11/2022, cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm đã bàn giao biển kiểm soát trên cho Công an huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc để tiếp tục giải quyết theo thẩm quyền.
- Tra cứu nguồn gốc phương tiện cơ giới đường bộ theo số máy trong kết luận giám định là của xe nhãn hiệu Sadoka, biển kiểm soát 33P5-0965 do ông Đoàn Đông Hải sở hữu; xe không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng. Ông Hải trình bày: ông sở hữu chiếc xe trên và khoảng năm 2010 đã bán cho một nam thanh niên không quen biết với giá 7.000.000 đồng.
- Trần Văn Th trình bày nguồn gốc xe là do Th mua của một nam thanh niên không quen biết vào năm 2012 với giá 4.000.000 đồng, có giấy tờ mua bán nhưng Th đã làm mất.
Tại bản Cáo trạng số 322/CT-VKSBTL ngày 30/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố Trần Văn Th về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi như nội dung nêu trên và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Th từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tổng hợp hình phạt của hai tội từ 30 tháng đến 39 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu về dân sự nên không xem xét. Vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy, ví, túi xách, con dao; tịch thu sung quỹ xe máy, trả bị cáo điện thoại di động đã thu giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng được thu giữ, kết luận giám định, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 01giờ 00 phút ngày 02/10/2022, tại chùa S thuộc tổ dân phố Đông Ba 1, phường Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Trần Văn Th lợi dụng đêm tối, không có người trông coi tài sản, bị cáo chiếm đoạt 17.720.000 đồng trong các hòm công đức của chùa S. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, ngày 03/10/2022 Th sử dụng 500.000 đồng mua 0,132 gam ma túy Methamphetamine và 0,143 gam ma túy Heroine để sử dụng thì bị bắt.
Hành vi bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 17.720.000 đồng của chùa S như nêu trên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bị cáo tàng trữ 0,132 gam ma túy Methamphetamine và 0,143 gam ma túy Heroine để sử dụng đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, thực hiện tội phạm ở nơi trang nghiêm, hoạt động tôn giáo tín ngưỡng. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng chấp hành hình phạt tù về tội trộm cắp tài sản và đã có thời gian cai nghiện ma túy bắt buộc, biết ma túy tác hại xấu đến sức khỏe của con người, biết pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn tiếp tục phạm tội. Mặt khác bị cáo lại sử dụng tài sản chiếm đoạt được để phục vụ nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, xâm phạm đến chính sách phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, tài sản đã được trả lại cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Xét thấy, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.
. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra thu giữ:
+ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Trần Văn Th, giám định viên và cán bộ niêm phong;
+ 01 túi xách màu đen kích thước 30x40x70cm đã qua sử dụng;
+ 01 ví da màu nâu kích thước khoảng 23x9cm đã qua sử dụng;
+ 01 con dao dài khoảng 50cm, phần chuôi dao bằng sắt hình trụ dài khoảng 10cm, từ sống dao tới lưỡi dao rộng khoảng từ 2cm tới 5cm, phần đầu của lưỡi dao bị sứt mẻ;
Là vật cấm lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ 01 chiếc xe máy kiểu dáng Dream màu nâu không đeo biển kiểm soát, số khung bị tẩy xóa không xác định, số máy đã bị tẩy xóa (giám định xác định số máy nguyên thủy là VLFPD1P50FMG-3 5A1B0525 ; là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
+ 01 điện thoại di động kiểu dáng Mobell màu đen, lắp sim số thuê bao xxxxxxxxxx; imei 810231600025879 đã qua sử dụng; không liên quan đến tội phạm cần trả lại bị cáo.
Đối với 500.000 đồng bị cáo chiếm đoạt của bị hại, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường là tiền do phạm tội mà có cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
3. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Th 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 20 (hai mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là: 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2022.
4. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự.
5. Xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Trần Văn Th, giám định viên và cán bộ niêm phong;
+ 01 túi xách màu đen kích thước 30x40x70cm đã qua sử dụng;
+ 01 ví da màu nâu kích thước khoảng 23x9cm đã qua sử dụng;
+ 01 con dao dài khoảng 50cm, phần chuôi dao bằng sắt hình trụ dài khoảng 10cm, từ sống dao tới lưỡi dao rộng khoảng từ 2cm tới 5cm, phần đầu của lưỡi dao bị sứt mẻ.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc xe máy kiểu dáng Dream màu nâu không đeo biển kiểm soát, số khung bị tẩy xóa không xác định, số máy đã bị tẩy xóa (giám định xác định số máy nguyên thủy là VLFPD1P50FMG-3 5A1B0525 ;
- Trả lại Trần Văn Th: 01 điện thoại di động kiểu dáng Mobell màu đen, lắp sim số thuê bao xxxxxxxxxx; imei 810231600025879 đã qua sử dụng.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 77/23 ngày 13/12/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm và Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
- Bị cáo phải nộp 500.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
6. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật. .
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND Q. Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an Q. Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Lưu HS - VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Văn Quang |