- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 304/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31/3/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Hưng;
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên toà: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 460/2021/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 119/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy Tr, sinh năm 1993 - có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: 70/8 đường T, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Trần Q, sinh năm 1990 - vắng mặt.
Địa chỉ: 23 đường Đ41, Khu phố 2, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Tr trình bày:
Bà Nguyễn Thị Thùy Tr và ông Trần Q chung sống với nhau từ năm 2017. Có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh giấy chứng nhận kết hôn số 139/2017 cấp ngày 20/11/2017.
Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Nhưng gần đây đã bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên gây gỗ cải vã kiến không khí gia đình rất nặng nề căng thẳng. Dù đã cho nhiều hàn gắn nhưng vẫn không cải thiện. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nay nhận thấy tình cảm vợ chông không còn, không thể tiếp tục chung sống và hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Không có.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn ông Trần Q nhưng ông Q đều vắng mặt tại Tòa không rõ lý do và Tòa án cũng không nhận được bất kỳ văn bản trình bày ý kiến của ông Q đối với các yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án thụ lý vụ án từ ngày 12/5/2021 nhưng đến nay mới đưa ra xét xử là không đúng thời hạn theo quy đinh tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Tr và ông Q đã lâm vào tình trạng không thể nào tiếp tục cuộc sống hôn nhân như thế này được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, chỉ có mâu thuẫn kéo dài. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tr.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Nguyễn Thị Thùy Tr xác định không có nên Tòa án không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đang cư trú tại Quận 12 nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy Tr có đơn xin xét xử vắng mặt. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Trần Q nhưng ông Q vắng mặt tại Tòa lần thứ nhất không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung tranh chấp:
. Về hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Thùy Tr và ông Trần Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận 12 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 139/2017 cấp ngày 20/11/2017, nên là hôn nhân hợp pháp.
Thời gian chung sống thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn nên bà Tr có đơn xin ly hôn. Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải bà Tr đều xác định không thể nào tiếp tục cuộc sống hôn nhân, chỉ có mẫu thuẫn kéo dài.
Kết quả xác minh về quan hệ hôn nhân giữa bà Tr và ông Q tại Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng Thuận, Quận 12 thể hiện: “Ông Trần Q và bà Nguyễn Thị Thùy Tr không còn sống chung tại địa chỉ 23 đường Đ41, Khu phố 2, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bản thân ông Q cũng đi sớm về khuya nên tổ trưởng và bà con xóm giềng ít gặp mặt nên không rõ sự tình”.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Tr và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Tr.
. Về con chung, tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Nguyễn Thị Thùy Tr xác định không có nên Tòa án không xem xét.
. Về án phí: Yêu cầu của bà Tr được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 55; Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy Tr được ly hôn với ông Trần Q.
Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, giấy chứng nhận kết hôn 139/2017 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2017 không còn giá trị pháp luật.
1.2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Nguyễn Thị Thùy Tr xác định không có nên Tòa án không xem xét.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0106598 ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thùy Tr đã nộp đủ án phí.
3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, bổ sung năm 2014.
4. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: -VKSND Q.12; -CCTHADS Q.12; -UBND nơi cấp GCN kết hôn; -Các đương sự; -Lưu: VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Minh Hà |