- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Căn c vào Điều 26, Điều 148 và khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
| T N NH N N TỈNH ĐỒNG TH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 304/2022/DS-PT Ngày: 18-7-2022 V/v tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M
TÒA N NH N N TỈNH ĐỒNG TH P
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguy n Ng c V ng.
Các Thẩm phán:
Ông Nguy n Tấn Tặng;
Ông Sỹ Danh Đ t.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ph m Thị Ng c Hà - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.
- Đ i di n Vi n Ki m sát nh n d n t nh Đồng Tháp: Ông Nguy n Tấn Tài - iểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 18/7/2022, t i trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2020/TLPT-DS ngày 17 tháng 02 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 84/2019/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, t nh Đồng Tháp bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 236/2022/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguy n Thị Thu H, sinh năm 1983; địa ch : p N, xã Gáo Giồng, huyện C, t nh Đồng.
Ngư i đ i diện theo ủy quyền của bà H: Ông Đinh Văn P, sinh năm: 1981; địa ch : Khóm T, phư ng H, TP S, t nh Đồng Tháp, theo văn bản ủy quyền ngày 18/3/2019.
Ngư i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H: Luật sư Đặng Hồng Đ - Văn phòng Luật sư Hồng Đ c, Đoàn luật sư t nh Đồng Tháp.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguy n Văn G, sinh năm: 1973;
2.2. Bà Ph m Thị L, sinh năm 1973;
Cùng địa ch : p N, xã G, huyện C, t nh Đồng Tháp.
Ngư i đ i diện theo ủy quyền của bà L: Ông Nguy n Văn G, theo văn bản ủy quyền ngày 10/7/2019.
3. Ngư i có quvền lợi, ngh a vu liên quan:
3.1. Bà Nguy n Thị P, sinh năm 1950;
3.2. Chị Nguy n Thị N, sinh năm 1975;
Ngư i đ i diện theo pháp luật của chị Nguy n Thị N (bị h n chế năng lực hành vi dân sự): Bà Nguy n Thị P, là mẹ chị N.
3.3. Ông Nguy n Văn H, sinh năm 1996;
Cùng địa ch : Tổ M, p N, xã G, huyện C, t nh Đồng Tháp.
Ngư i đ i diện theo ủy quyền của ông H: Ông Nguy n Văn G, theo văn bản ủy quyền ngày 10/7/2019.
3.4. Ông Nguy n Phước Đ, sinh năm 1973;
3.5. Bà Nguy n Thị T, sinh năm 1973;
Cùng địa ch : Tổ H, p A, xã M, TP. C, tình Đồng Tháp.
3.6. Ông Nguy n V n C, sinh năm 1981;
Địa ch : p A, xã B, huyện C, t nh Đồng Tháp.
Ngư i đ i diện theo ủy quyền của ông C: Ông Đinh Văn P, sinh năm: 1981; địa ch : Khóm T, phư ng H, TP S, t nh Đồng Tháp, theo văn bản ủy quyền ngày 09/4/2019.
3.7. Ông Thái Minh P, sinh năm: 1975;
3.8. Bà Nguy n Thị Ng c B, sinh năm: 1976;
Cùng địa ch : p N, xã G, huyện C, t nh Đồng Tháp.
3.9. Ông Nguy n Văn Q, sinh năm 1963;
Địa ch : Tổ M, p N, xã G, huyện C, t nh Đồng Tháp.
Ngư i đ i diện theo ủy quyền của ông Q: Ông Đinh Văn P, sinh năm: 1981; địa ch ; hóm T, phư ng H, TP S, t nh Đồng Tháp, theo văn ủy quyền ngày 09/4/2019.
3.10. Ngân hàng N
Đ i diện: Ông hương Văn B, sinh năm: 1973; địa ch : Tổ B, khóm T, phư ng H, TP C, t nh Đồng Tháp.
3.11. Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp T;
Địa ch : p N, xã G, huyện C, t nh Đồng Tháp.
Đ i diện theo pháp luật: Ông Nguy n Thanh H, sinh năm: 1973; ch c vụ: Giám đốc.
3.12. Bà Nguy n Thị B, sinh năm: 1964;
3.13. Bà Nguy n Thị Bích H, sinh năm: 1988;
3.14. Bà Nguy n Thị Trư ng H, sinh năm: 1992;
3.15. Bà Nguy n Quốc H, sinh năm: 1996;
3.16. Bà Nguy n Thị Ng c L, sinh năm: 1985.
Cùng địa ch : Tổ H, p N, xã G, huyện C, t nh Đồng Tháp.
(Ông H, bà B, bà H, bà H, ông H, ông B có đơn xin xét xử vắng mặt).
4. Ngư i kháng cáo: Bà Nguy n Thị Thu H và ông Nguy n Văn Q (Là nguyên đơn và ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan trong vụ án).
NỘI UNG VỤ N:
- Ông Đinh Văn P i diện à trình bày: Nguồn gốc đất các thửa 425, 426, 427 là của ông G, bà L và hộ bà P đ ng tên trong giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất. Trong đó thửa 425 và 426 do bà P đ ng tên, thửa 427 do vợ chồng ông G đ ng tên trong giấy ch ng nhận. Vào năm 2016 H là con ông Q có thỏa thuận nhận chuyển nhượng 03 thửa đất nói trên thông qua 02 hợp đồng chuyển nhượng. Cụ thể: Hợp đồng th nhất giữa bà H với vợ chồng ông G diện tích thửa 427, giá thực tế 680.753.000 đồng, giá ghi trong hợp đồng 400.000.000đồng. Hợp đồng th hai thửa 426 giữa bà H với bà P giá thực tế 402.980.000đồng, ghi trong hợp đồng 300.000.000đồng; thửa 425 và tài sản trên đất thửa 425 gồm kiến trúc, cây trồng giá 191.507.000đồng. Tổng cộng bà H đã thanh toán tiền cho vợ chồng ông G nhận là 1.275.142.000 đồng. Việc giao kết hợp đồng được thực hiện t i Phòng công ch ng Đồng Tháp có đầy đủ thành viên hộ bà P, ông G ký tên nên UBND huyện cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho bà H. Sau khi có giấy thì hai bên không làm thủ tục giao đất mà phía vợ chồng ông G ký hợp đồng thuê l i toàn bộ 03 thửa đất trên với bà H với giá 52.000.000đồng/năm. Đồng th i, giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất bà H thế chấp cho Ngân hàng N chi nhánh thành phố C để vay 1.400.000.000 đồng. Nay ông P đ i diện cho bà H yêu cầu hủy hợp đồng thuê đất ngày 19/01/2016 buộc hộ bà P, vợ chồng G và những ngư i liên quan khác đang quản lý đất giao trả đất đã thuê cùng toàn bộ tài sản có trên đất như đã nêu trên. Về phần tiền thuê đất thì không yêu cầu ông G, bà L trả. Tiền chuyển nhượng bà H đã trả cho ông G 1.275.142.000 đồng. Ông P đ i diện theo ủy quyền của ông Q xác định là tiền riêng của bà H không có phần nào là tiền của ông Q. Đối với số tiền nợ mà ông G nợ ông Q thì ông Q không yêu cầu ông G thanh toán trong vụ án này. Về diện tích đất trước khi chuyển nhượng ông G cho Hợp tác xã T thuê bà H vẫn tiếp tục cho thuê l i.
Bà Nguy n Thị Thu H trình bày trong biên bản hòa giải ngày 19/9/2019: Xác định số tiền mà bà bỏ ra để nhận chuyển nhượng của ông G, bà L, bà P là tiền cá nhân của bà không có việc cấn tr 200.000.000đồng của cha là ông Q vào tiền chuyển nhượng đất, bà không đồng ý yêu cầu tuyên vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng. Trư ng hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của phía bị đơn và ngư i liên quan hủy 03 hợp đồng chuyển nhượng bà H yêu cầu những ngư i này trả tiền chuyển nhượng 1.275.142.000 đồng. Đối với việc vay Ngân hàng thì bà H xác định có vay và đồng ý trả b ng phương án xử lý đất mà bà đã thế chấp cho Ngân hàng.
- Ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị P cùng trình bày: Ông G có nợ ông Q 200.000.000 đồng có đóng lãi ch chưa hoàn vốn. Về số đất thửa 427 đầu tiên thế chấp cho Ngân hàng N chi nhánh huyện C vay 500.000.000 đồng, do cần vốn sản xuất nên ông G, bà P trả tiền ở Ngân hàng N để vay ở Ngân hàng Đ 700.000.000đồng. Sau khi thế chấp 03 thửa đất ở Ngân hàng vay 700.000.000 đồng thì ông Q có đến đặt vấn đề sẽ giúp vay ở Ngân hàng N Chi nhánh TP C 1.000.000.000 đồng, nên mới hoàn trả tiền Ngân hàng Đ để giao giấy ch ng nhận cho ông Q làm thủ tục vay ở Ngân hàng N Chi nhánh TP. C. Tuy nhiên để vay được thì ông Q đề nghị cả hộ gia đình bà P, ông G phải làm giấy ủy quyền cho ông Q làm thủ tục vay và thủ tục ủy quyền phải ký t i phòng công ch ng. Vì lẽ đó mà t ng ngư i trong hộ có đến phòng công ch ng ký tên ngh là ủy quyền cho ông Q vay tiền nhưng đến ký tên công ch ng viên không thông qua nội dung mà bảo ký tên, nên tất cả m i ngư i trong hộ khẩu đều ký tên. Tuy nhiên, những ngư i trong hộ có chị Nguy n Thị N mất hành vi dân sự nhưng công ch ng viên vẫn bắt lăn tay mà không có ngư i giám hộ. Về phần bà P thì bà P là ngư i không biết chữ và khi ký cũng như điểm ch t ng ngư i đều đi không trùng gi nhưng cùng 01 ngày, khi ký giao dịch không gặp mặt chị H. Gia đình ông G ch biết việc sang tên cho bà H đ ng tên vào ngày 22/01/2016. Sau đó, ông Q tiếp tục đề nghị ông G ký tên thuê l i 03 thửa đất với bà Thu H, giao giấy cho ông Q giữ để ông Q lấy đó đối chiếu với các chủ nợ của vợ chồng ông G, vì thế mà giấy thuê đất ngày 19/01/2016 bà H không ký tên. Phần th i điểm này các chủ nợ đưa việc thiếu nợ của vợ chồng ông G ra công an huyện C giải quyết, sợ bị xử lý hình sự như l i ông Q đe d a vào ngày ký hợp đồng thuê (19/01/2016) nên ông G, bà L theo l i ông Q đi lánh mặt một th i gian. Do không có việc chuyển nhượng đất mà bị l a dối nên không đồng ý giao đất và có yêu cầu sau:
+ Hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông G với bà H vào ngày 12/01/2016.
+ Hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà P với bà H ngày 12/01/2016.
Về số tiền ghi trong hợp đồng ngày 12/01/2016 có công ch ng cũng như trình bày của phía nguyên đơn thì bà P, ông G, bà L không đồng ý trả vì không có nhận tiền, tuy nhiên nếu bên nguyên đơn ch ng minh có việc nhận tiền mua bán thì đồng ý trả khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu. Trư ng hợp đồng bị tuyên vô hiệu. Ông G đồng ý thực hiện tiếp hợp đồng chuyển nhượng với ông Đ, bà T, số vàng cố đất cũng đồng ý trả cho ông Đ, bà T theo yêu cầu của ông Đ và bà T, đồng ý hủy hợp đồng cố đất, đồng ý tiếp tục cho Hợp tác xã T thuê làm đư ng thủy lợi.
- Ông Đinh Văn P i diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Q và anh Nguyễn V n C trình bày: Ông Q là cha bà Thu H còn anh C là chồng bà Thu H trong vụ án này ông Q, anh C không có ý kiến trình bày.
- Bà Nguyễn Thị P i diện chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị N là con của bà hiện đang ở chung hộ khẩu, mắc bệnh liên quan đến nhận th c và điều ch nh hành vi, Tòa án đã tuyên bố h n chế năng lực hành vi dân sự và không đồng ý giao đất.
- Ông Nguyễn Phước Đ và à Nguyễn Thị T trình bày: Vợ chồng ông có nhận cố đất của vợ chồng ông G thửa 427 diện tích 07 công vào năm 2013 đến năm 2015 thì vợ chồng ông G chuyển nhượng cho vợ chồng ông Đ 3.200m2 đã giao đất canh tác và đã trả tiền chuyển nhượng 100.000.000 đồng còn l i 50.000.000 đồng, khi nào làm giấy đỏ xong sẽ thanh toán. Về phần 04 công còn l i thì cố với giá 40 ch vàng 24 kr đã giao vàng cố xong nhưng th i điểm đó cho vợ chồng ông G thuê l i giá 2.000kg lúa/năm và trả lúa được 01 năm thì ngưng. Nay yêu cầu công nhận diện tích nhận chuyển nhượng 3.200m2 theo quy định, đồng ý trả tiếp cho vợ chồng ông G 50.000.000 đồng. Về hợp đồng cố đất thì yêu cầu vợ chồng ông G trả 40 ch vàng 24 kr, đồng ý hủy hợp đồng, phần lúa cho thuê thì không yêu cầu trả. Trư ng hợp Tòa án xử không công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất diện tích 3.200m2 thì vợ chồng ông Đ cũng không yêu cầu vợ chồng ông G hoàn trả tiền chuyển nhượng hay bồi thư ng thiệt h i do hợp đồng bị vô hiệu. Vấn đề tiền chuyển nhượng sẽ giải quyết với nhau b ng vụ kiện khác.
- Ông Thái Minh P trình bày: Ông có nhận cố đất của vợ chồng ông G, bà P 10 công đất với giá 100 ch vàng 24 kr. Tuy nhiên khi cố đất thì ông không canh tác mà cho ông G thuê l i với giá 30.000.000 đồng/năm. Đến năm 2016 vợ chồng ông G bỏ địa phương đi nơi khác ông lấy l i 04 công canh tác, phần còn l i hộ bà P sử dụng. Cho hộ bà P canh tác là vì 06 công trong 10 công là đất của bà P đ ng tên nên giao trả l i cho bà P sử dụng ch không thông qua giao dịch gì khác với bà P. Như vậy vàng cố 100 ch là cho 04 công. Việc cố đất, thuê đất anh P không yêu cầu giải quyết trong vụ án này đợi khi nào giải quyết xong giữa G, L, P với H anh sẽ thỏa thuận hoặc sẽ kiện sau b ng vụ kiện khác.
- Ông Khương Văn B trình bày: Ngày 20/10/2017, giữa bà H và Ngân hàng có ký đồng thế chấp số 02091711.089/HĐTC ngày 20/10/2017, giá trị đảm bảo là 1.400.000.000đ (tài sản thế chấp là 03 giấy ch ng nhận QSDĐ theo văn bản số 112/NHNoTPCL- H D ngày 24/7/2019), về thủ tục thế chấp ngày 20/10/2017 phòng công ch ng số 01 công ch ng hợp pháp, các bên ký đầy đủ theo quy định có ch ng thực của cơ quan có thẩm quyền được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C ch ng nhận về việc thế chấp tài sản QSDĐ, đăng ký theo nội dung kê khai t i cùng th i điểm.
Ngân hàng yêu cầu bà H phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc còn l i là 780.000.000d, tiền lãi tính đến ngày 19/9/2019 là 22.694.800d, tổng cộng là 802.694.800d, Ngân hàng yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi thanh toán hết số nợ (m c lãi suất là 9%/năm) đồng th i yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật khi bà H không trả đủ hoặc không trả tiền vay vốn và lãi. Ngân hàng đồng ý trả l i các giấy ch ng nhận đã nhận thế chấp khi thu hồi đầy đủ tiền vay và lãi.
- Anh Nguyễn Thanh trình bày: Hợp tác xã có thuê 01 phần đất của ông G t i thửa 427 t bản đồ số 7 đất t i xã G để làm thủy lợi nội đồng phục vụ cho Tr m bơm tưới của Hợp tác xã. Việc thuê này di n ra trước khi có việc tranh chấp. T trước đến nay, không thấy phía bà H đến đặt vấn đề gì với HTX. Nay có tranh chấp HTX không có yêu cầu gì, mà đợi kết quả giải quyết cuối cùng của Tòa án đất thuộc về phía nào HTX sẽ thỏa thuận l i chủ đất mới để thuê hoặc tiếp tục thuê với ông G.
- Các đương sự bà Nguy n Thị B, Nguy n Thị Bích H, Nguy n Thị Trư ng H, Nguy n Quốc H, Nguy n Thị Ng c L, Nguy n Thị Ng c B không có văn bản ý kiến.
T i bản án dân sự sơ thẩm số: 84/2019/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, t nh Đồng Tháp, quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng thuê đất giữa Nguy n Thị Thu H với Nguy n Văn G, Ph m Thị L ngày 19/01/2016;
- hông chấp nhận yêu cầu giao đất thửa 425, 426, 427 t bản đồ số 7 của Nguy n Thị Thu H đối với hộ Nguy n Thị P, Nguy n Văn G, Ph m Thị L, Nguy n Thị N, Nguy n Văn H, Nguy n Phước Đ, Nguy n Thị T, Thái Minh P, Nguy n Thị Ng c B, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp T.
- Chấp nhận yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12/01/2016 của Nguy n Văn G, Ph m Thị L, Nguy n Thị P.
- Tuyên bố vô hiệu hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 19/01/2016.
- Tuyên bố vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguy n Thị P, Ph m Thị L, Nguy n Văn G, Nguy n Thị N, Nguy n Văn H với Nguy n Thị Thu H t i các thửa 425, 426, 427 ngày 12/01/2016.
- Hộ Nguy n Thị P, Nguy n Thị N được quyền sử dụng diện tích 1604,lm2 đất thửa 425 lo i đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm; diện tích 6.052,2m2 thửa 426 lo i đất trồng lúa, t bản đồ số 7; đất t i xã Gáo Giồng, huyện C cùng toàn bộ cây trồng, kiến trúc có trên đất. Đất n m trong ph m vi các mốc: Thửa 425 n m trong ph m vi các mốc M 1, M 2, M 3, M 4, M 12 về M1; Thửa 426 n m trong ph m vi các mốc M 12, M 4, M 5, M 13, M 11, M 15 về M 12.
- Nguy n Văn G, Ph m Thị L, Nguy n Văn H được quyền sử dụng một phần thửa 427 có diện tích 8.822,5m2 lo i đất trồng lúa nước, t bản đồ số 7; đất t i xã G, huyện C. Đất n m trong ph m vi các mốc M ll’, M ll”, M 13, M 5, M 6, M 7, M 8, M 8’ về M ll’.
- Chấp nhận yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 3.200m2 thuộc một phần thửa 427 t bản đồ số 7; đất t i xã G, huyện C của Nguy n Phước Đ, Nguy n Thị T;
- Nguy n Phước Đ và Nguy n Thị T được quyền sử dụng 3.200m2, lo i đất lúa, một phần thửa 427, t bản đồ số 7; đất t i xã G, huyện C. Đất n m trong ph m vi các mốc M 16, M 11’, M 8’, M 9 về M 16 (trong đó mốc M 8’ n m trên đư ng thẳng nối mốc M 9 với mốc M 8, mốc M 8’ cách mốc M 9 là 21,81m; Mốc M 11’ n m trên đư ng thẳng nối mốc M 16 với mốc M 15, mốc M 11’cách mốc M 8’ là 130,35m, cách gốc gáo là 5,20m; Mốc M 16 cách mốc M 9 là 130,92m).
- Nguy n Phước Đ và Nguy n Thị T có ngh a vụ trả cho Nguy n Văn G và Ph m Thị L 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
- Chấp nhận yêu cầu trả vàng cố 40 ch vàng 24 kr và tuyên vô hiệu hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất (hợp đồng không ghi ngày tháng năm) của Nguy n Phước Đ và Nguy n Thị T.
ể t ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trư ng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể t ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo m c lãi suất quy định t i khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Tuyên bố vô hiệu hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất (hợp đồng không ghi ngày tháng năm) đất giữa Nguy n Văn G, Ph m Thị L với Nguy n Phước Đ, Nguy n Thị T t i thửa 427, t bản đồ số 7; đất t i xã G, huyện C.
- Nguy n Văn G, Ph m Thị L có ngh a vụ hoàn trả cho Nguy n Phước Đ, Nguy n Thị T 40 ch vàng 24 kr.
- Đình ch yêu cầu trả tiền vay của Ngân hàng N.
- Tuyên bố vô hiệu nội dung thế chấp 03 giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất thửa 425, 426, 427 trong hợp đồng thế chấp đã ký kết giữa Ngân hàng N với Nguy n Thị Thu H.
Đề nghị UBND huyện C thu hồi diện tích đất trong giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Nguy n Thị Thu H thửa 425, 426, 427 để cấp l i cho Nguy n Thị P, Nguy n Văn G, Ph m Thị L, Nguy n Phước Đ, Nguy n Thị T theo quy định.
Bà P, ông G, bà L, ông Đ, bà T được thực hiện các quyền và ngh a vụ của ngư i có quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo biên bản thẩm định ngày 11/6/2019 và ngày 14/7/2019, Sơ đồ đo đ c duyệt ngày 25/11/2019 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C).
+ Về chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản 14.890.000đồng bà Thu H phải nộp và đã nộp xong.
Về án phí:
+ Bà Thu H phải nộp 47.214.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu tr vào số tiền t m ng án phí đã nộp 21.750.000 đồng, theo biên lai số 0006245 ngày 20/02/2019 và biên lai số 0006553 ngày 10/4/2019. Sau khi khấu tr còn phải nộp tiếp 25.464.000 đồng.
+ Ông Đ, bà T phải nộp 2.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu tr vào số tiền t m ng án phí đã nộp 3.800.000 đồng, theo biên lai số 0003198 ngày 26/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C. Sau khi khấu tr bà T, ông Đ được nhận l i 1.300.000 đồng.
+ Ngân hàng N được nhận l i 17.840.000đồng tiền t m ng án phí đã nộp theo biên lai số 0003192 ngày 22/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo, th i h n kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29 tháng 11 năm 2019 nguyên đơn Nguy n Thị Thu H và ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan Nguy n Văn Q kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm đã xét xử.
T i phiên tòa phúc thẩm:
+ Ông Đinh Văn P trình bày: Bà Nguy n Thị Thu H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, ông Nguy n Văn Q vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
+ Ông Nguy n Văn G, bà Ph m Thị L, bà Nguy n Thị P trình bày: Thống nhất theo bản án sơ thẩm đã xét xử.
+ Luật sư Đặng Hồng Đ trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử căn c vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguy n Thị Thu H. Buộc hộ ông G, bà L, bà P giao cho bà H sử dụng ba thửa đất 425, 426, 427, t bản đồ số 7, vì bà H nhận chuyển nhượng hợp pháp, đã đ ng tên giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất.
Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về vụ án như sau:
- Về tố tụng: T khi thụ lý vụ án đến t i phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Nguy n Thị Thu H, ông Nguy n Văn Q và giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 84/2019/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, t nh Đồng Tháp. Về án phí phúc thẩm xem xét theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên tòa và căn c vào kết quả tranh tụng t i phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦ T
N:
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Nguyên đơn và ngư i có quyền lợi, ngh a vụ liên quan kháng cáo bản án sơ thẩm hợp lệ. Việc ủy quyền của đương sự t i cấp phúc thẩm thủ tục phù hợp nên chấp nhận.
[2] Nguồn gốc đất tranh chấp gồm thửa 425, 426 là của hộ bà P và 427 là của ông G, bà L. Theo ông P trình bày, bà P và vợ chồng ông G chuyển nhượng 03 thửa đất nói trên cho bà H vào năm 2016. Giá thực tế như sau: thửa 427 giá 680.753.000 đồng; thửa 426 giá 402.980.000 đồng; thửa 425 và tài sản trên đất (gồm kiến trúc, cây trồng) giá 191.507.000 đồng và bà H đã thanh toán tiền cho ông G, bà L là 1.275.142.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng giữa bà P với bà H và hợp đồng giữa vợ chồng ông G với bà H đều ký cùng ngày 12/01/2016, thực hiện công ch ng đúng quy định; giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H. Ông G, bà P cho r ng do thiếu tiền vay của ông Q nên mới nh ông Q lập thủ tục thế chấp QSDĐ của hộ gia đình ông G và bà P để vay tiền Ngân hàng N – Chi nhánh thành phố C, số tiền 1.000.000.000đ. Ông G, bà L, bà P không có nhận tiền của bà H.
[3] Nhận thấy, ông P căn c hợp đồng chuyển nhượng ngày 12/01/2016, hợp đồng thuê QSDĐ ngày 19/01/2016 và việc chuyển nhượng được cơ quan có thẩm quyền công nhận hợp đồng, để ch ng minh đã thanh toán tiền xong cho bên chuyển nhượng. Như vậy, việc thanh toán tiền không đúng với số tiền ghi trong hợp đồng và không có biên nhận. T i biên bản hòa giải ngày 19/9/2019 bà H khai số tiền mà bà trả cho ông G, bà L, bà P là tiền cá nhân của bà H không liên quan đến tiền ông G vay của ông Q. T i Tòa cấp sơ thẩm, ông Q cho r ng ông G nh ông Q vay giùm tiền của ông U, bà T và tổ vay vốn xã G 1.000.000.000đ. Ông G là ngư i nhận tiền vay nhưng ông Q phải làm biên nhận vay tiền của ngư i cho vay (chủ nợ). Đồng th i, ông G thiếu tiền bà L 10.000.000đ không khả năng thanh toán, nên ông Q trả nợ cho bà L thay cho ông G 10.000.000đồng. Việc gia đình ông G, bà P chuyển nhượng đất là do ông G không khả năng trả nợ nói trên. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa tiến hành đối chất trực tiếp giữa bà H và ông Q để làm r l i khai mâu thuẩn của cha con ông Q, bà H, để xác định bản chất của việc giao dịch (ông G, bà P chuyển nhượng cho bà H hay do không khả năng trả nợ giao đất ...) và quyền ngh a vụ của các bên đương sự, nh m giải quyết yêu cầu của đương sự đúng quy định của pháp luật. Về thanh toán tiền: Chưa lấy l i khai nhân ch ng như ông U, bà T ngư i liên quan trong tổ vay vốn và bà L. Đồng th i phải đối chất l i khai giữa nhân ch ng, ông Q, bà H, ông G, bà L, bà P (nếu l i khai có mâu thuẫn) để làm r có vay tiền hay không có vay tiền, ai là ngư i vay, việc giao nhận tiền, ai làm biên nhận, trách nhiệm trả nợ và có liên quan đến việc chuyển nhượng như ông Q trình bày không
T i T tư ng trình ngày 19/6/2022 của ông Q khai là ông G nợ tiền vật tư cửa hàng Phước T 400 triệu đồng, khi biết ông G bán đất cho bà H nhưng không trả nợ nên chủ cửa hàng mới m i cán bộ địa chính đến làm r , thì cán bộ địa chính xác định việc bà H nhận chuyển nhượng đúng quy định. Việc này cần phải làm r l i khai các nhân ch ng, đối chất theo quy định.
Ông Q khai đưa tiền cho ông G để trả nợ Ngân hàng Đ số tiền 700.000.000đ, nhận giấy ch ng nhận đang thế chấp ra để lập hợp đồng chuyển nhượng (biên bản lấy l i khai ngày 21/9/2017) cũng chưa được làm r nguồn tiền trả nợ cho Ngân hàng có phải nhận của bà T, ông U và mang đến Ngân hàng trả nợ cùng th i gian trong một buổi không, ai nộp tiền vào Ngân hàng ...
Quá trình thu thập ch ng c của Tòa án cấp sơ thẩm, đương sự xác nhận T thuê đất do con ông G viết nhưng cấp sơ thẩm cũng chưa lấy l i khai con ông G để làm r sự thật khách quan của việc ký hợp đồng thuê đất.
Bà H yêu cầu ông G, bà L trả l i phần đất thuê, nhưng ông G bà L không th a nhận việc chuyển nhượng đất cho bà H, còn thủ tục thuê đất là nh m đối phó với chủ nợ của ông G. Ông G ch ng minh việc thỏa thuận ủy quyền cho ông Q lập thủ tục để vay tiền Ngân hàng N thì ông G có ghi âm và cung cấp cho Tòa án th nhớ (USB) có nội dung ghi âm này đề nghị giám định gi ng nói ông Q và t i phiên tòa phúc thẩm ông G cũng yêu cầu xem xét làm r ch ng c này. Tòa cấp sơ thẩm chưa xem xét làm r việc ghi âm để hai bên xác nhận nội dung theo đúng quy định, nếu chưa thống nhất phần nội dung nào thì trưng cầu giám định theo yêu cầu của đương sự.
Theo yêu cầu của bà H trong trư ng hợp hủy hợp đồng chuyển nhượng thì ông G, bà L, bà P phải trả cho bà H số tiền 1.275.142.000 đồng, nhưng bản án sơ thẩm không có quyết định phần tiền nói trên là thiếu sót nghiêm tr ng và cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
Qua nội dung trên cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập ch ng c đầy đủ nên việc chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hay yêu cầu của bị đơn đều chưa có căn c . Tòa án cấp phúc thẩm không thể thu thập ch ng c bổ sung, vì ảnh hưởng nghiêm tr ng đến quyền của đương sự theo quy định về tố tụng dân sự. Do đó hủy bản án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết l i.
[4] Xét đề nghị của Luật sư Đặng Hồng Đ yêu cầu sửa bản án sơ thẩm là chưa phù hợp như đã phân tích trên.
[5] Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đồng Tháp đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà H, ông Q và giữ nguyên bản án sơ thẩm là chưa phù hợp.
[6] Về án phí: Bà H và ông Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c vào Điều 26, Điều 148 và khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 84/2019/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện C, t nh Đồng Tháp.
Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh thụ lý giải quyết l i theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí:
Bà Nguy n Thị Thu H và ông Nguy n Văn Q không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Nguy n Thị Thu H và ông Nguy n Văn Q tiền t m ng án phí phúc thẩm m i ngư i là 300.000 đồng theo các biên lai số 0003714 ngày 10/12/2019 và số 0003636 ngày 04/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Trư ng hợp bản án được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án, ngư i phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - V SND T nh; - TAND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Phòng KTNV &THA- TAND T nh; - Lưu: VT, HSVA, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PH N - CHỦ TỌ PHIÊN T Nguyễn Ngọc Vạng |